CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

8 giai đoạn để công bố một bài báo khoa học

SSHPA (11-04-2018) - Tác giả Stephen K. Donovan sau 36 năm trong nghề nghiên cứu đã viết một bài quan điểm nhẹ nhàng Reflective Practice: Eight Stages of Publishing a Scientific Research Paper trên tạp chí Publications thuộc hệ thống MDPI. 

Bài viết dựa trên kinh nghiệm cá nhân của tác giả và ông đã chia quá trình công bố một bài báo khoa học thành 8 giai đoạn chính:

1. Lên ý tưởng (In Navel Contemplation): Đây là giai đoạn mà mọi thứ vẫn còn nằm trong tâm tưởng của tác giả.

2. Chuẩn bị (In Preparation): Theo tác giả thì sử dụng từ "đang chuẩn bị" có thể dẫn đến một cái bẫy khi mọi thứ đều trong tình trạng "đang chuẩn bị" và có nguy cơ bị quên lãng. Donovan cho rằng chỉ nên sử dụng từ này trong CV và nên có các từ cụ thể hơn như "Trong giai đoạn nghiên cứu" (Research in Progress) hoặc "Unpublished data" (Dữ liệu chưa công bố).

* Bổ sung kinh nghiệm của SSHPA Admin cho giai đoạn 2:

- Khi nào thì giai đoạn "Đang chuẩn bị" này hoàn tất?

Đáp: Đó là khi bản thảo đầu tiên, dù sạch hay còn sạn nhiều sạn ít, đã hoàn thành với đầy đủ cấu trúc cần thiết.

- Thế nào là đầy đủ cấu trúc cần thiết?

Đáp: Tùy ngành, nhưng căn bản nhất là đảm bảo các phần của IMRAD "Introduction - Methods and Materials - Results - and Discussion/Implications/Conclusions".

- Ai là "first author"?

Đáp: Ai được nhóm cử làm first author thì là người đó. Trong trường hợp ngang ngang nhau, ngại quyết định (vì khiêm tốn), thì ai hoàn thành first draft đầu tiên, người đó là first author.

- Bản thảo sạch đầu tiên có giá trị gì, nếu chưa peer review và chưa được chấp thuận công bố?

Đáp: Bản thảo sạch cần được các thành viên cơ bản đồng ý rằng có thể "trình làng". Cách dễ nhất là gửi lên hệ thống Working Paper Repositories, hay còn gọi là Preprint Servers. Ngày nay có rất nhiều hệ thống như vậy: IDEAS/RePEc, arXiv (toán học, vật lý, công nghệ thông tin), BioarXiv (sinh, sinh hóa, y sinh), PschyArXiv (tâm lý học), SocArXiv (xã hội học), PhilPapers (triết học), OSF Preprints Server (data + preprints), Harvard Dataverse (data), UK Data Archive (structured data), và một hệ thống rất lâu đời nữa cho khoa học xã hội là SSRN (gần đây đã bị Elsevier mua và tích hợp vào hệ thống, có cấp DOI cho nên hơi có chút rủi ro "giải trình" khi nộp bản thảo), v.v..

Đưa lên Preprints Server có mấy tác dụng chính: i) giữ bản quyền khỏi tranh chấp kết quả (ai làm trước, có kết quả trước); ii) tăng cường khả năng giới thiệu kết quả, và cơ bản sẵn sàng để có trích dẫn (citable documents); iii) tăng cường khả năng hợp tác với các nhà nghiên cứu cùng hướng; iv) có khả năng được một số tạp chí "hỏi thăm" đăng bài, nếu kết quả hay. Trong trường hợp được hỏi thăm, thường sẽ được peer review nhanh hơn, gọi là "expedited peer review".

3. Đã nộp (Submitted): Đây là giai đoạn bản thảo đã được gửi đến tạp chí. Tuy nhiên cần lưu ý rằng bản thảo này hoàn toàn có thể bị ban biên tập loại ngay từ vòng gửi xe. Ví dụ, tỉ lệ loại bài của tạp chí đỉnh cao Nature lên đến 95%, 5% được chấp nhận thì cần lưu ý số lượng các tác giả đã được chấp nhận nhiều lần, suy ra tỉ lệ nhận bài còn thấp hơn nữa.

4. Phản biện (In Review): Ban biên tập đã gửi bản thảo của bạn đến các cây bút phản biện (reviewer). Có nhiều khả năng như loại thẳng tay, sửa nặng, sửa nhẹ hay được chấp nhận luôn (khả năng này cực kì hiếm).

5. Sửa bài, duyệt lại bài và nộp lại (Revision, revised and resubmitted): Một giai đoạn chờ đợi dài đằng đẵng, có những khi quá trình phản biện kéo dài đến 3-4 lần, thậm chí hơn thế.

6. Được chấp nhận (Accepted): Chúc mừng bạn ! Bây giờ là lúc để lo các vấn đề giấy tờ, bản quyền, hoàn thành các biểu mẫu tiêu chuẩn, hay trả các loại phí để xử lí bài (Article Processing Charge).

7. Đang in (In Press): Bài báo của bạn sẽ được sắp chữ điện tử và xử lí để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Trong giai đoạn này có một công việc quan trọng là proofing khi bản sản xuất chưa hiệu chỉnh lượt cuối gửi đến tác giả đầu mối (dẫn dắt). Thường bây giờ proofing điện tử, gọi là e-proofing, nên thuận lợi. Tuy vậy, để đứa con tinh thần được diện mạo hoàn hảo nhất, lúc này từng lỗi nhỏ cần được hiệu chỉnh (vì thường chỉ có một lượt này mà thôi). Sau đó, bản đã hiệu chỉnh các sai sót (gọi là corrected proof) được gửi lại là bắt đầu quá trình sản xuất chính thức, nằm ngoài kiểm soát của cả tác giả lẫn ban biên tập.

8. Công bố (Published): Ngày nay thì với sự đa đạng của hệ thống các tạp chí thì có nhiều kiểu công bố như: online, báo giấy hoặc cả hai. Cần lưu ý rằng nếu bài báo được công bố online trước, rồi mới đến bản in giấy thì bản in giấy mới là phiên bản chính thức của bài báo.

Công việc nghiên cứu sẽ luôn luôn đầy những trắc trở, ngay từ giai đoạn lên ý tưởng để tạo ra một bản thảo đã là một sự khó khăn, sau đó còn nhiều thách thứcnữa để đến được giai đoạn cuối cùng. Tác giả Donovan gợi ý các tác giả nên quan tâm đến bản thảo của mình và không nên quá lạc quan ở bất kì giai đoạn nào.

 

*Thông tin thư viện (chuẩn APA):

Donovan, S. K. (2018). Reflective practice: Eight stages of publishing a scientific research paper. Publications6(1), 8, DOI: 10.3390/publications6010008.

 


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):