CSDL NVSS: 657 tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Hệ thống công bố khoa học: Chỉ mục tạp chí, và hệ số tác động JIF, CiteScore

SSHPA (24-04-2018) — Hệ thống xuất bản ấn phẩm hàn lâm, tính từ khi hai tạp chí đầu tiên ra đời năm 1665, đã phát triển mạnh mẽ cả về chất và lượng. Một nhánh như Springer Link thuộc Springer (nay là Springer Nature) có đến hơn 3000 tạp chí hay hệ thống nhỏ hơn như De Gruyter cũng có gần 1000 tạp chí. Elsevier có khoảng 3000 tạp chí, trong đó có rất nhiều tạp chí mạnh, và 2 dòng ấn phẩm danh giá: Cell Press (riêng tạp chí Cell có JIF năm 2016 là 30.4) và The Lancet (với tạp chí Lancet lừng danh, xuất bản từ năm 1823, có JIF > 44, năm 2016). Rất nhiều nhà xuất bản mạnh khác cũng cạnh tranh nhau về số lượng và chất lượng.

Với sự phát triển của số lượng đồ sộ như vậy thì các hệ thống có tính phân hạng là điều cần thiết để tác giả cũng như độc giả có thể định vị các tạp chí trong mê cung xuất bản này.

I. Hệ thống danh mục cơ sở dữ liệu (CSDL)

NAFOSTED khi công bố danh mục các tạp chí quốc tế uy tín đã sử dụng cơ sở dữ liệu của ISI Web of ScienceScopus là định hướng để đánh giá. Hai danh mục này cũng chính là hai “ông lớn” uy tín trong hệ thống danh mục và cơ sở dữ liệu khoa học.

Cơ sở dữ liệu Web of Science (trước đây là Web of Knowledge) là một sản phẩm của Institute for Scientific Information (ISI) do Eugene Garfield sáng tạo và thành lập. Bên cạnh Web of Science thì ISI còn sở hữu nhiều vũ khí hạng nặng khác như Journal Citation Reports – nơi công bố hệ số tác động Journal Impact Factor vào tuần cuối tháng 6, hàng năm. Năm 1992, ISI được mua lại và phát triển bởi Thomson Reuters và cho đến năm 2016 thì chuyển nhượng sang cho Clarivate Analytics.

Trong giới khoa học thì khi nói đến ISI thì nghĩa là nhắc đến CSDL Web of Science này. ISI chỉ mục hóa khoảng 15.000 tạp chí, 50.000 đầu sách học thuật và khoảng 160.000 kỉ yếu hội nghị ở nhiều ngành khác nhau (con số này thay đổi theo thời gian). Hệ thống ISI Web of Science còn bao gồm nhiều dịch vụ, CSDL khác nhau cho từng nhóm ngành và loại xuất bản phẩm như nhóm các tập CSDL con quan trọng nhất dưới đây, gọi là Core Collection:

  • Science Citation Index (SCI): hệ thống danh mục gốc của ISI
  • Science Citation Index Expanded (SCIE): hệ thống mở rộng của SCI
  • Conference Proceedings Citation Index (CPCI): dành riêng cho kỉ yếu hội nghị.
  • Social Science Citation Index (SSCI): dành cho nhóm ngành khoa học xã hội.
  • Arts & Humanities Citation Index (AHCI): dành cho ngành nghệ thuật và nhân văn.
  • Book Citation Index (BCI): dành cho các tựa sách.
  • Emerging Sources Citation Index (ESCI): dành cho các tập san khoa học đang cải thiện tốt về hoạt động, bao gồm cả chất lượng và ảnh hưởng.

Ngoài ra còn có cơ sở dữ liệu cho lĩnh vực tự nhiên hay cho một khu vực nhất định như Trung Quốc hay Hàn Quốc, và nhiều CSDL con như Current Contents Connect, Biological Abstracts, BIOSIS Citation Index, CABI, sciELO Citation Index, Data Citation Index, v.v.. Nhưng chúng không thuộc Core Collection.

Kể từ khi ra đời ISI thuộc tốp đầu về danh mục CSDL khoa học thì đến năm 2004, Scopus được “chống lưng” bởi Elsevier ra đời và tạo nên một cuộc chiến tay đôi, tương tự như iOS – Android trong công nghệ hay Marvel – DC trong ngành truyện tranh. Hệ thống Scopus này chỉ mục hoá khoảng 21.500 tạp chí, 131.000 đầu sách, trên 7,5 triệu bài kỉ yếu hội thảo. CSDL Scopus cũng tạo nên hệ số tác động riêng là CiteScore để tranh giành ảnh hưởng. Cũng phải nói thêm rằng bản thân Elsevier là một nhà xuất bản lớn nên tiềm lực của Scopus còn nằm ở sự nhạy cảm của CSDL này trong xuất bản khoa học là cao hơn rất nhiều so với ISI chỉ thuần về chỉ mục hóa và dữ liệu. Cho đến hiện tại thì Scopus đã là một gã khổng lồ thật sự và được các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Bỉ... sử dụng để phân tích hiệu quả đầu tư và hướng phát triển chính sách khoa học. Đồng thời các bảng xếp hạng giáo dục uy tín như Times Higher Education hay QS World University Ranking cũng sử dụng CSDL Scopus cũng như thuật toán SciVal để tính toán trọng số uy tín quan trọng nhất: năng suất, hiệu quả và uy tín học thuật.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường hãnh diện vì đăng được bài ở các tạp chí có JIF cao. Các trường đại học tự hào nếu có nhiều giảng viên, giáo sư có bài, nhiều bài, đăng ở các tạp chí có JIF khủng. Họ hay xét phong học hàm dựa một phần lớn vào các công trình loại này. Các chương trình nghiên cứu cấp tài trợ khoa học cũng hay trao quỹ vào tay các giáo sư đăng được bài ở tạp chí JIF khủng, và ngầm ra điều kiện về các ấn phẩm trong tương lai. (Thực tế này khiến nảy sinh một vấn đề lớn hiện nay: lạm dụng và sử dụng sai mục đích JIF; đó là vì JIF tự nhiên biến thành công cụ đo chất lượng khoa học, mặc dù nó sinh ra không nhằm mục đích đó, và cơ bản cũng không mang chức năng đó.)

Bên cạnh hai ông lớn này thì có một số hệ thống danh mục CSDL khác như Google Scholar nổi bật là một trang tìm kiếm kiến thức khoa học miễn phí quen thuộc tuy chưa có được sự hệ thống hóa cao như Scopus hay ISI. Ngoài ra còn có hệ thống của một số chuyên ngành rất mạnh (cả về năng lực công bố, ảnh hưởng lẫn nguồn tài chính) như sức khỏe, y xã hội hay y sinh với Medline/PubMed hay PMC full-text content (toàn văn) của hệ thống hùng mạnh NIH (Mỹ).

Cuối cùng cũng không thể không nhắc đến các hệ thống CSDL “ngoại vi” lưu trữ các bản thảo khoa học thường gọi là Preprint Server như ArXiv,  bioRxiv. Đối với KHXH&NV thì phải kể đến Social Science Research Network (SSRN)IDEAS/RePEc (cơ bản là kinh tế và tài chính). SSRN cũng đã bị Elsevier thâu tóm năm 2017, và kể từ đó, việc đưa bản thảo lên hệ thống chịu nhiều sự kiểm soát hơn, đặc biệt với các tài liệu khoa học có khả năng bị hạn chế bởi các luật bản quyền (trước đó thì khá thoải mái).

II. Hệ số tác động

Như đã nói qua ở trên, hai CSDL lớn nhất trong giới khoa học thì đều có cho mình hệ số tác động riêng: Impact Factor của ISI và CiteScore của Scopus. Chỉ số Journal Impact Factor được ra đời trước cùng với sự xuất hiện của Web of Science, đều là con đẻ của Eugene Garfield. Tầm nhìn của ông về đánh giá khoa học đã chứng minh được tầm ảnh hưởng của mình khi hệ thống danh mục và hệ số tác động trở thành kim chỉ nam để đánh giá mức độ ảnh hưởng của một tạp chí nào đó trong con mắt của giới chuyên gia.

Hệ số Journal Impact Factor của một tạp chí được tính toán bằng cách đếm số trích dẫn có được trong một năm (t) của tất cả các bài đã công bố trong tạp chí đó trong 2 năm trước đó (tức là t-1 và t-2), rồi chia cho tổng số bài đã công bố của tạp chí cũng của 2 năm đó. Hằng năm Impact Factor được công bố trên Journal Citation Reports (JCR) vào tháng 6. Có thể nói, toàn bộ giới xuất bản đều quan tâm tới ấn phẩm JCR. Tháng 6 với giới khoa học có thể coi là “mùa JCR”. Đặc biệt, trong mùa này sẽ có một phần báo cáo về các tạp chí lần đầu tiên có JIF. Thường sau khi được công bố JIF lần đầu tiên, điều thần tiên xảy đến với ban biên tập: Số lượng bản thảo nộp xét duyệt đăng sẽ tăng vọt. Tương tự với các tạp chí có JIF tăng mạnh qua 1 năm theo báo cáo JCR. Số lượng bài nộp, và quan trọng là chất lượng bản thảo, cũng tăng vọt. Có một quy luật không ai muốn nói ra, nhưng cơ bản là sự thật: Các tạp chí hãnh diện về tỷ lệ từ chối. Tỷ lệ này càng cao, thì tỷ lệ được chấp thuận công bố càng thấp. Họ chọn lọc được các bản thảo mạnh, vì có nhiều “hàng trong kho”. JIF có phần tiếp tay cho hiệu ứng này, vòng xoáy tiếp tục, và trở thành một kiểu nước chảy chỗ trũng.

Scopus đưa ra hệ số tác động CiteScore vào tháng 12 năm 2016 và nó nhanh chóng được chú ý do sự lớn mạnh của Scopus. Cách tính của CiteScore cũng tương đồng với Impact Factor nhưng là sử dụng dữ liệu từ 3 năm trước đó thay vì 2. Những biến động của hệ số này có thể theo dõi trực tiếp thông qua hệ thống CiteScore Tracker và đến tháng 5 hàng năm thì Scopus cũng tổng hợp hệ số của tác ấn phẩm. Có lẽ họ có tính toán để ra trước JCR đã thành truyền thống của ISI Web of Science. CiteScore Tracker giúp hình dung được diễn biến tích lũy ảnh hưởng trong năm (hàng tháng) mà không cần đợi tới tháng 5, khi công bố. Trong hình dưới đây là so sánh xu hướng giữa hai tạp chí có tiếng, PLOS ONE của PLOS và Scientific Data của Nature.

CiteScore được sử dụng rộng rãi cho các tạp chí trong danh mục Scopus, miễn là đủ dữ liệu, thì Journal Impact Factor chỉ công bố cho những tạp chí được chỉ mục hóa trong hai danh mục con là SCIE và SSCI. AHCI, ESCI và các chỉ mục khác — mặc dù cũng rất uy tín — nhưng không có JIF. Tra cứu CiteScore cũng tiện lợi và miễn phí (ở mức độ cơ bản).

Cần phải lưu ý rằng các hệ số tác động đều chỉ mang tính tương đối và nên tránh sử dụng chúng để so sánh, đối chiếu. Ví dụ CiteScore lớn nhất của một tạp chí triết học là Journal of Political Philosophy chỉ là 2.59 nhưng đối với quản lí nhân sự và hành vi tổ chức thì có thể lên đến 11.96 (Academy of Management Annals). Điều này có thể được lí giải thông qua tính mở của mỗi ngành trong bối cảnh hiện này khi rõ ràng, triết học hay văn hóa học sẽ khó được trích dẫn hơn so với ngành hot như kinh tế hay tài chính.

Ngoài ra, còn nhiều hệ số tác động khác được tính cho các CSDL đặc thù, hoặc có ý nghĩa quốc gia, ví dụ C-SSCI của Trung Quốc, T-SSCI của Đài Loan, hay ACI của ASEAN, v.v.. Nhưng chúng không thể có tầm ảnh hưởng và mức độ phổ biến, nổi tiếng như JIF hay CiteScore.

Bên cạnh đó, những hệ thống mạnh cũng không nhường ảnh hưởng cho JIF và CiteScore. Nature và Science coi việc được đăng vào các tạp chí của họ đã là một loại chỉ mục hóa; chỉ cần nói đơn giản là công bố ở “một tạp chí Nature” hay “một tạp chí Science” cũng đủ nói lên rất nhiều điều. Nature cũng tự tay sinh ra Nature Index, và công bố chỉ số của họ, được ngóng đợi không kém JIF hay CiteScore. Chỉ khác chỗ, quy mô rất hẹp và giới hàn lâm thường xem như các tạp chí “thần thánh trong đền”. Đôi khi chỉ cần nhỏ và rất đẹp.

III. Một số ý kiến đánh giá

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu so sánh và đánh giá về nhiều mặt của các hệ thống danh mục cũng như hệ số tác động trong đánh giá chất lượng khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, các kết quả đều cho thấy mỗi hệ thống lại có một điểm mạnh khác nhau. Ví dụ như Scopus có nhiều tạp chí ở nhiều ngành hơn nhưng độ sâu dữ liệu theo thời gian vẫn thua Web of Science hiện tại. Nhưng có vẻ họ sẽ nhanh chóng cân bằng, nhờ lợi thế đầu tư và thuật toán mạnh, cùng với quyết tâm cạnh tranh cao. Đối với Google Scholar thì tuy có thể có cả những thông tin nhỏ nhặt nhất, và miễn phí, nhưng việc sử dụng thường bị ảnh hưởng bởi sự thiếu thông tin, trùng lắp văn bản hay nhầm lẫn tác giả có tên tương tự... Bên cạnh đó, một yếu tố nữa cũng được chỉ ra là đối với cả Web of Science và Scopus thì đều có sự thiên vị nhất định cho lĩnh vực khoa học tự nhiên, và các tạp chí tiếng Anh cũng được giới thiệu nhiều hơn so với các tạp chí không xuất bản tiếng Anh.

Hệ số tác động còn gặp phải những ý kiến trái chiều hơn bất kể tác động lớn của nó trong khoa học hiện nay. Một số nhà khoa học thì cho rằng hệ số này hoàn toàn vô nghĩa so với sự phức tạp của khoa học, vì thế, chả có cách nào khác để đánh giá ngoài bản thân nội dung của một bài nghiên cứu. Nhẹ nhàng hơn thì giới khoa học kêu gọi không nên quan trọng hóa hệ số tác động mà chỉ nên coi nó như là một trong những cách đánh giá với tính chất tham khảo.

Trên thực tế, không phải lúc nào đăng bài trên các tạp chí được chỉ mục hóa hay có hệ số tác động cao mới là mục tiêu của các nhà khoa học. Ví dụ như sinh học, khi các phát kiến ra đời liên tục thì các bài trong hệ thống preprint như bioRxiv dù không nằm trong danh mục hay có hệ số tác động nào thì vẫn được trích dẫn và đón đọc. Bản thảo bài báo cuối cùng của Stephen Hawking cũng được đăng trên arXiv hai tuần trước khi ông qua đời, cũng đã đủ gây chú ý khắp thế giới.

Hệ thống danh mục và hệ số tác động đều là những phát kiến có ảnh hưởng trong khoa học bất kể sự tồn tại của những nhược điểm như đã nêu. Đối với các nền khoa học đang hội nhập như Việt Nam thì hệ thống danh mục và hệ số tác động góp phần chuẩn hóa và minh bạch hóa các hệ quy tắc manh mún và cũ kĩ trước đây.

Trong một bài giới thiệu ngắn không thể nói hết được câu chuyện lớn và dài tập của thế giới hàn lâm, nhưng chúng tôi hy vọng cũng đã nêu được vài nét cơ bản. Những thông tin bổ sung trong các bài báo ở phần tham khảo dưới đây sẽ có thể có ích.

*Tài liệu tham khảo bổ sung:

https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/meet.14504301185
https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs11192-015-1765-5
https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs11192-015-1798-9
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2015/01/he-so-tac-ong-impact-factor-chua-chet.html
https://www.nature.com/polopoly_fs/1.20224.1468429701!/menu/main/topColumns/topLeftColumn/pdf/nature.2016.20224.pdf?origin=ppub
https://link.springer.com/article/10.1007%2Fs11948-014-9517-0
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2126010/pdf/9056804.pdf
http://www.cmaj.ca/content/161/8/979.short
https://www.fasebj.org/doi/pdf/10.1096/fj.07-9492LSF
https://bio-diglib.biomedcentral.com/articles/10.1186/1742-5581-3-7

*Bài đóng góp của: Hồ Mạnh Toàn (toan.ho@wu.edu.vn)


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (5):

  • Trả lời Mạnh Toàn: Trên trang chủ của Scopus và Web of Science đều có phần mục nêu rõ các tiêu chí để hội đồng hoặc các biên tập của hai CSDL này đánh giá và lựa chọn tạp chí. https://clarivate.com/products/publisher-relations/journals/ https://www.elsevier.com/solutions/scopus/how-scopus-works/content/content-policy-and-selection Tựu chung thì các tiêu chí cơ bản là tạp chí khoa học có phản biện, tuân thủ các đạo đức về công bố, công bố thường xuyên và có đăng kí ISSN, phải có các phần thông tin cơ bản bằng tiếng Anh, v.v..
  • Trả lời Trần Thái Dương: Tôi muốn biết quy định về tiêu chuẩn xét duyệt tạp chí khoa học của ISI và Scopus được ghi ở tài liệu gốc nào, rất mong sự chỉ dẫn của các anh chị. Trân trọng cảm ơn!
  • Trả lời Mạnh Toàn: Chỉ là một vài đóng góp nho nhỏ, mong mọi người tiếp tục ủng hộ.
  • Trả lời Phạm Kỳ Anh: Bài viết hay và cô đọng. Cám ơn tác giả.
  • Trả lời NTG: Đó giờ biết CDSL mình biết có ISI thôi, ko ngờ còn bao la cả đống nguồn khác.