CSDL NVSS: 657 tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Dữ liệu và khoa học trong triết học đạo đức

SSHPA (14-06-2018) - Trong giai đoạn 1960-1999, khoảng 62% những nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất trong ngành triết học nghiên cứu tâm trí sử dụng phương pháp dựa trên lý luận hoàn toàn (a priori methods). Đến giai đoạn 2009 - 2013, con số này giảm xuống chỉ còn khoảng 12%, đánh dấu sự phát triển của nhánh "triết học thực nghiệm" - khi các nhà triết học cũng tự mình thực hiện các nghiên cứu khoa học định lượng dữ liệu.

(Nguồn: Google Sites)

Triết gia và giáo sư khoa học nhận thức tại Yale University - Joshua Knobe - là nhân vật điển hình cho sự thay đổi này. "Hiệu ứng Knobe (Knobe effect)" là một trong những kết quả nổi tiếng nhất của ông được kiểm tra thông qua thí nghiệm khảo sát với lần lượt 78 và 42 người ở thí nghiệm thứ nhất và thứ hai. Các thử nghiệm triết học thường tương đồng với các nghiên cứu tâm lý học, tuy nhiên, các triết gia thường đào sâu vào hành vi con người và kiểm tra các giả định về các sự thật đạo đức. Việc sử dụng thí nghiệm, dữ liệu và các phương pháp thống kê giúp các triết gia có thêm bằng chứng về các nguyên tắc mà chúng ta áp dụng một cách vô thức khi đánh giá một ai đó có trách nhiệm đạo đức hay không. Đồng thời, dữ liệu cũng giúp phản ánh về tính đúng đắn của các nguyên tắc này.

Theo Quartz, các nguyên tắc áp dụng trong triết học thực nghiệm thực ra đã xuất hiện rải rác trong suốt lịch sử phát triển của ngành triết học. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp thống kê và khoa học vào triết học là một sự phát triển mới. Các nhà khoa học cho rằng đây đơn giản là một cách để giải đáp và phát triển các ý tưởng triết học, bởi vì nếu các vấn đề có thể được giải quyết bằng cách ngồi một chỗ thì chúng đều đã có câu trả lời rồi.

 


Ý kiến bạn đọc (2):

  • Trả lời Dược Sư: Bài hay quá, cảm ơn!
  • Trả lời Ho Manh Tung: Thế hệ các triết gia hiện tại ngày càng trở nên thông thạo với bằng chứng thực nghiệm: https://www.nature.com/articles/nrn3403