CSDL NVSS: 657 tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Sinh viên thực tập nghiên cứu: Những kĩ năng mềm quan trọng trong phát triển tác phong khoa học

SSHPA (10-8-2018) - Trong một bài truyền thông khoa học, GS ngành kĩ thuật y sinh của ĐH Iowa, James Ankrum, đã chia sẻ những kinh nghiệm thu được khi qua hướng dẫn 18 bạn sinh viên trong phòng thí nghiệm của ông. Ankrum cho rằng bên cạnh phải trau dồi những kĩ năng và kĩ thuật chuyên ngành, nắm được những kĩ năng mềm sau đây sẽ giúp các bạn sinh viên có được thời gian thực tập làm nghiên cứu hiệu quả, thú vị hơn, cũng như khiến chính họ trở thành tài nguyên đáng giá hơn cho các trường ĐH, các viện nghiên cứu. 

1. Quản lý thời gian: Mỗi khi việc học tập trở nên bận rộn hoặc có những việc hấp dẫn hơn xuất hiện, quá trình thực tập nghiên cứu thường bị đình trệ. Vì thế, để trở thành những người đáng tin cậy, các bạn sinh viên cần phải thực tế và có cam kết rõ ràng về thời gian của mình đối với công việc nghiên cứu. Họ cần luôn ghi nhớ về những nhiệm vụ có tính nhạy cảm đối với thời gian. Dù là thực tập, một khi trở thành một phần của đội nghiên cứu, ta cần nắm rõ vai trò của mình trong một tập thể, và mỗi cá nhân thực hiện những nhiệm vụ mà người khác sau đó sẽ sử dụng.

2. Thời gian tĩnh: Là thời gian mà nhà nghiên cứu không làm gì cụ thể như là viết, hay thu thập, xử lí dữ liệu, v.v...đây là thời gian dành cho SUY NGHĨ và PHẢN TƯ về việc hình thành những ý tưởng, những giải thuyết, hướng nghiên cứu và cách giải quyết vấn đề mới hay nhìn lại các vấn đề cũ theo hướng mới. 

Làm quen với việc sử dụng thời gian tĩnh sao cho hiệu quả là một phần của việc thực tập nghiên cứu. Đối với các bạn sinh viên, quen việc phải động tay động chân, luôn luôn nghĩ năng suất lao động được tính bằng những việc cụ thể, có lẽ thời gian tĩnh là khái niệm xa lạ và trừu tượng. Tuy nhiên, biết dùng thời gian này cho việc lập kế hoạch và nghĩ kĩ, nghĩ sâu về các bước trong công việc không những có thể giúp tăng khả năng đóng góp cho công việc nghiên cứu mà đây còn là một kĩ năng vô cùng có ích cho mọi nghề nghiệp sau này. 

3. Phê bình khi đọc: Có thói quen đọc đã khó, biết phê bình khi đọc lại là một kĩ năng khó hơn. Hằng ngày, có vô kể các bài báo khoa học được xuất bản, biết xử lí lượng thông tin lớn như vậy sao cho hiệu quả là việc không đơn giản, không chỉ với sinh viên mà cả với người nghiên cứu lâu năm.

Tác giả James Akrum đã chỉ  ra một lộ trình để tăng kĩ năng đọc như sau: Đầu tiên, các bạn sinh viên cần học cách nhận diện những bài báo khoa học hay sách có liên quan đến vấn đề mình nghiên cứu (quan tâm). Sau đó, ở mỗi bài báo/sách, thay vì tin vào mọi thứ được viết ra, người đọc cần biết tìm ra những hạn chế, những điểm yếu song song với biết công nhận những kết quả hay, những đóng góp của nghiên cứu mình đọc. 

4. Làm gì tiếp theo?: Một nhà nghiên cứu tốt luôn lên kế hoạch cho nhiều bước phía trước. Một nhà nghiên cứu giỏi luôn biết lên kế hoạch cho đường dài. Học cách tự lên kế hoạch và hành động theo kế hoạch mình đặt ra dưới sự chỉ dẫn của một người có kinh nghiệm sẽ giúp các bạn trẻ tiến bộ về khả năng quản lý dự án hơn. 

5. Ghi chép/lưu trữ tài liệu: Đây là công việc tưởng chừng đơn giản nhưng nếu không có cách làm khoa học thì hậu quả là khôn lường. VD, ở trường ĐH, cách một sinh viên ghi chép chỉ ảnh hưởng đến anh ta, nhưng với công việc nghiên cứu, cách một người ghi chép, lưu trữ tài liệu và dữ liệu có thể quyết định đến năng suất và chất lượng công việc của cả đội nghiên cứu. Trong kinh nghiệm của nhóm SSHPA, đôi khi ghi chép cẩn thận những ý tưởng được bàn đến trong một bữa trà có thể là nền tảng cho một bài nghiên cứu sau này.

Bên cạnh đó, tài liệu và dữ liệu nghiên cứu thường sẽ bị sử dụng lại trong nhiều năm kể cả sau khi nghiên cứu đã được công bố (để kiểm chứng kết quả, để chạy lại thí nghiệm, v.v...), ghi chép và lưu trữ sai có thể khiến sụt giảm uy tín khoa học, hoặc ít nhất là mất thời gian, công sức và tiền bạc để làm lại tài liệu. Do đó, đối với người thực tập nghiên cứu, trước tiên học cách ghi chép và lưu trữ tài liệu sao cho hợp lí, sau đó tìm cách đóng góp cho văn hóa ghi chép/ lưu trữ dữ liệu sẽ giúp các bạn thực tập nghiên cứu phát triển kỷ luật và tác phong khoa học trong mình, điều này cũng hoàn toàn có ích mọi loại hình công việc. 

6. Đóng góp nhiều hơn: Đối với cả người hướng dẫn lẫn người thực tập nghiên cứu, quá trình cùng làm việc với nhau là cơ hội để mỗi bên nhìn lại về sự phát triển của bản thân. Người hướng dẫn có thể nhìn ra được hình ảnh của mình trước đây. Người thực tập có thể nhận ra mình đã lớn lên như thế nào, có cái gì, thiếu cái gì để chủ động tìm kiếm sự chỉ đường, để có thể phát triển nhanh hơn. Việc hướng dẫn các bạn thực tập sinh một cách hiệu quả như vậy cũng là một cách đóng góp hay cho cộng đồng khoa học nói chung. 

 


Ý kiến bạn đọc (0):