CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Sự khiêm tốn trí tuệ: tầm quan trọng của việc nhận thức sai lầm của bản thân

SSHPA (06-01-2019) — Trong thời gian gần đây, các thí nghiệm kiểm tra khả năng tái lập kết quả của các nghiên cứu tâm lý học nổi tiếng liên tiếp đưa ra những con số gây chấn động: (1) theo tạp chí Science, chỉ có 39/100 nghiên cứu tâm lý học tái xác lập kết quả thành công, (2) theo Nature Human Behavior, chỉ có 62% kết quả được tái xác lập trong số 21 nghiên cứu khoa học xã hội trên Science và Nature trong giai đoạn 2010-2014, (3) cuối cùng, tháng 11 vừa qua, 186 nhà nghiên cứu từ 36 quốc gia chỉ tái xác lập thành công 14 trên 28 nghiên cứu tâm lý học.

(Nguồn: Pexels)

Cuộc khủng hoảng tái lập kết quả càn quét mọi ngóc ngách của khối ngành khoa học xã hội và khiến các nhà nghiên cứu bắt tay vào thực hiện các biện pháp quyết liệt như cải thiện phương pháp nghiên cứu, công bố mở dữ liệu, thiết kế nghiên cứu để đảm bảo sự minh bạch. Ngày 4 tháng 1 vừa qua, Brian Resnick — phóng viên khoa học của Vox — đề cập đến một đức tính quan trọng khác mà mỗi nhà khoa học cần có: sự khiêm tốn trí tuệ (Intellectual Humility). Bài viết đăng tải trên Vox đã được nhiều nhà khoa học nổi tiếng ủng hộ như tổng biên tập Nature: Magdalena Skipper, hay người tiên phong cho các dự án kiểm tra khả năng tái lập: Brian Nosek.

Sự khiêm tốn trí tuệ là khả năng nhận thức và chấp nhận những thứ mình tin tưởng có thể sai. Nó là một quá trình quan sát và kiểm tra thưởng xuyên các điểm mù trong suy nghĩ của bản thân. Sự khiêm tốn này là rất cần thiết trước sự choáng ngợp của kiến thức, và thực tế, quan niệm này đã được Socrates nhắc đến từ xa xưa: “Tôi biết là tôi không biết gì cả”. Hiện nay, tâm lý học cũng đã chứng minh được sự khiêm tốn cũng gắn với những tính các tốt đẹp khác như cởi mở hơn với các ý kiến trái chiều, hay sự tự nhận thức cao khi mắc sai lầm.

Tuy nhiên, nhận thức được điểm mù của bản thân chưa bao giờ là một nhiệm vụ dễ dàng. Đầu tiên, trí óc, cảm quan của con người không phải là hoàn hảo. Nó thường đánh tráo cảm giác quen thuộc hay sự gần gũi với tính đúng đắn. Ví dụ, hiệu ứng Dunning-Kruger cho thấy những người có khả năng kém thường tự đánh giá năng lực thực tế của bản thân cao hơn. Ngay cả đối với các nhà khoa học, những người đặt câu hỏi với mọi thứ, thì để tránh được yếu điểm này và nhận biết là mình sai cũng cần đến các phản biện chỉ ra lỗi một cách gay gắt, kèm theo là cảm giác không hề dễ chịu. Bên cạnh đó, xã hội hiện nay cũng cổ vũ sự tự tin, và thành công luôn là những hình mẫu lí tưởng, thế nên thừa nhận thất bại hay sai lầm vẫn gặp phải sự đánh giá nặng nề từ xã hội. Hồi tháng 6, nhà nghiên cứu Brian Wansink chính thức nghỉ hưu sau hàng loạt sai phạm bị phát hiện. Thương tâm hơn, TS. Yoshiki Sasai đã tự vẫn vào năm 2014 sau 6 tháng hứng chịu búa rìu dư luận xuất phát từ nghiên cứu bị rút trên Nature.

(Nguồn: Wikipedia)

Để sự khiêm tốn trí tuệ trở thành một hành vi tiêu chuẩn trong khoa học, cải thiện sự minh bạch hóa là rất cần thiết. Tiếp đó, môi trường học thuật cũng cần phải hạn chế các sự khuyến khích thái quá dẫn đến các hành vi sai phạm khoa học như đếm sao hay chẻ nhỏ dữ liệu. Môi trường học thuật không chỉ nên tập trung tìm kiếm câu trả lời hay khẳng định những niềm tin quả quyết mà nó cũng cần nuôi dưỡng sự minh bạch, khả năng tự vấn và cải thiện bản thân không ngừng, bắt đầu từ chính sự khiêm tốn trí tuệ.

*Tham khảo:

Resnick, B. (2018). Intellectual humility: the importance of knowing you might be wrong. Vox.


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):