CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Các yếu tố tác động tới hiệu suất doanh nghiệp tại Việt Nam

SSHPA (12-04-2019) — Ngày 11-04-2019 vừa qua, nhóm nghiên cứu do hai tác giả Vũ Thị Hạnh (Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội) và Nguyễn Văn Duy (Trung tâm Nghiên cứu định lượng, Hà Nội) dẫn dắt đã đưa ra những phân tích về mối liên hệ giữa khả năng cạnh tranh, mức lương, các đặc tính của CEO và hiệu suất của doanh nghiệp trên tạp chí Journal of Risk and Financial Management [ISI Web of Science - ESCI]. (Được biết tạp chí sắp được indexed vào chỉ mục SSCI để tracked for Impact Factor, đồng thời cũng chuẩn bị tiếp tục chỉ mục hóa trong CSDL Scopus trong 2019.)

Bài nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu của các công ty đại chúng niêm yết trong năm 2015 từ nền tảng cung cấp dữ liệu tài chính chuyên sâu FiinPro. Các chỉ số như thu nhập bình quân nhân viên, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (return on assets – ROA), lợi nhuận trên vốn (return on equity – ROE), tuổi và quy mô công ty, giới tính của CEO và cường độ vốn (capital intensity) đã được nhóm nghiên cứu sử dụng để lọc ra 693 công ty từ hơn 800 công ty niêm yết và 1200 công ty đại chúng không niêm yết có trong hệ thống.

Phép đạc tam giác (triangulation) trên các kết quả có được từ các phương pháp bình phương nhỏ nhất (ordinary least square – OLS) và hồi quy phân vị (quantile regression) cho kết quả tương quan âm giữa cường độ vốn và hiệu suất của công ty. Các doanh nghiệp tài chính cũng cho thấy tồn tại mối quan hệ tương quan âm giữa tuổi của công ty, mức lương trung bình mỗi nhân viên và hiệu suất của công ty. Bên cạnh đó, quy mô và hiệu suất của doanh nghiệp cho thấy tương quan dương, trong khi giới tính của CEO và Chủ tịch Hội đồng quản trị không cho thấy ảnh hưởng đáng kể nào.

(Nguồn: Photo by rawpixel.com from Pexels)

Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tập trung vào chi phí nhân lực rẻ, phụ thuộc nhiều vào nhân công, công nghệ thấp và vấn nạn ngộ độc nguồn lực đe doạ tới tiềm năng sáng tạo của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Đặc biệt, thực trạng này sẽ trở thành nguy cơ lớn khiến các doanh nghiệp mất khả năng thích ứng và phát triển trong thời đại Công nghiệp 4.0. Để Việt Nam có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu cũng như tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, các nhà hoạch định chính sách cần thúc đẩy các ngành công nghiệp công nghệ cao giúp phát triển nguồn nhân lực tinh nhuệ với mức thu nhập tốt.

Chia sẻ về trải nghiệm của mình, tác giả Vũ Thị Hạnh cho biết chị rất vui khi bài được chấp nhận và công bố, tuy nhiên, chị cũng đánh giá nghiên cứu này vẫn cần được phân tích mở rộng thêm: “Trong thực tế, số các doanh nghiệp niêm yết chiếm tỷ lệ không lớn. Đồng thời, cũng có nhiều doanh nghiệp tham gia thương mại quốc tế không niêm yết. Có thể doanh nghiệp độ mở thấp. Dẫn đến việc vẫn cần đánh giá thêm ảnh hưởng của chỉ số thương mại quốc tế của doanh nghiệp đến kết quả hoạt động”. Trong tương lai, tác giả sẽ tiếp tục mở rộng dữ liệu bao gồm nhiều năm và bổ sung thông tin của các doanh nghiệp chưa niêm yết để có được bức tranh đầy đủ hơn.

(Nguồn: Photo by Julius Silver from Pexels)

Đây là bài viết đầu tiên được xuất bản trong số chuyên đề “Tài chính khởi nghiệp ở bình minh Công nghiệp 4.0”. Số chuyên đề vẫn tiếp tục kêu gọi các nghiên cứu điều tra, thảo luận và tổng quan lý thuyết xoay quanh vấn đề tài chính khởi nghiệp cho đến tận tháng 3 năm 2020. Việc nghiên cứu mở rộng tri thức về lĩnh vực này là hết sức cần thiết khi các hoạt động khởi nghiệp đang ngày càng trở nên phổ biến và có tác động mang tính quyết định lên các biến đổi xã hội.

*Thông tin thư viện chuẩn APA:

Vu, T. H., Nguyen, V. D., Ho, M. T., & Vuong, Q. H. (2019). Determinants of Vietnamese listed firm performance: Competition, wage, CEO, firm size, age, and international trade. Journal of Risk and Financial Management, 12(2), 62, DOI: 10.3390/jrfm12020062.

Hoàng Phương Hạnh (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội)


Ý kiến bạn đọc (0):