CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Trải nghiệm về nghiên cứu của các học giả KHXH&NV tại Việt Nam

SSHPA (23-04-2019) — Tính đến ngày hôm nay, cơ sở dữ liệu SSHPA ghi nhận, 2423 công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) do 1426 tác giả người Việt xuất bản từ năm 2008 đến nay. Trong khi đó, công bố quốc tế của khoa học Việt Nam nói chung đã tăng mạnh trong thời gian gần đây: chỉ trong một năm rưỡi, từ 2017 đến tháng 6-2018, 10.515 nghiên cứu đã được công bố bởi 30 trường đại học hàng đầu Việt Nam. Có thể thấy, phần lớn các nghiên cứu này đều thuộc ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, vốn có truyền thống lâu đời. Bên cạnh đó, sự thua thiệt của KHXH&NV cũng xuất phát từ việc các trường đại học tại Việt Nam hầu hết tập trung vào chức năng giảng dạy.

Công bố quốc tế của ngành KHXH&NV Việt Nam 2015 - 2019 (Tính đến ngày 23-4-2019)

Đầu tháng 4 năm nay, hai tác giả Phạm Thị Ly (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) và Martin Hayden (Southern Cross University, Úc) đã công bố bài viết Research In Vietnam: The Experience Of The Humanities And Social Sciences trên tạp chí Journal of International and Comparative Education [ESCI]. Hai tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 20 nhà nghiên cứu có thành tựu trong KHXH&NV tại Việt Nam. Hầu hết họ đều đang công tác tại các trường đại học tại Việt Nam.

Chia sẻ với hai tác giả, các nhà nghiên cứu đều tìm thấy niềm vui trong công việc khám phá tri thức, đồng thời quá trình làm việc cũng mang lại sự phát triển nghề nghiệp, đóng góp cho công tác giảng dạy của bản thân cũng như sự phát triển của đất nước. Khi nhắc đến động lực, các nhà nghiên cứu đều coi công việc là niềm đam mê cá nhân. Họ không quá bị ảnh hưởng bởi áp lực công bố, hay ‘publish or perish’. Tuy nhiên, việc công bố khoa học đang được quan tâm hơn cũng tạo ra những thay đổi nhất định. Ví dụ, doping tài chính đang trở nên hào phóng hơn ở rất nhiều trường đại học. Mặc dù vậy, tựu chung động lực khám phá tri thức vẫn chủ yếu xuất phát từ cá nhân mỗi nhà nghiên cứu.

Trong khi đó, vấn đề về cơ chế, điều kiện cơ sở vật chất, hỗ trợ từ cấp trên và sự tự do cũng phần nào hạn chế các nhà nghiên cứu. Ví dụ, quá trình xin tài trợ hiện nay còn quá phức tạp và quan liêu. Đồng thời, nhiều đề tài cũng có tính chất nhạy cảm cũng mang lại những bất lợi đáng kể khi xin tài trợ tại nơi mình công tác. Bên cạnh đó, ngôn ngữ và khác biệt trong văn hóa học thuật tại Việt Nam và quốc tế cũng khiến nhiều nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong. Rất nhiều người cho rằng công bố tại các tạp chí trong nước dễ dàng hơn rất nhiều. Đi kèm với đó là việc đánh giá chất lượng qua loa chiếu lệ của nhiều tạp chí trong nước, vốn tồn đọng nhiều vấn đề tồn đọng như quan hệ, chất lượng hệ thống, hay kể cả lót tay.

Hiện nay, bất chấp các chính sách và cơ chế khuyến khích, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, KHXH&NV vẫn chưa cho thấy sự hiệu quả cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong bối cảnh của một quốc gia đang phát triển, một nhà nghiên cứu kì cựu đánh giá, sự thiếu hiệu quả kéo dài có thể sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng của người dân đối với khoa học. Tác giả Phạm Thị Ly và Martin Hayden cho rằng sự thay đổi trước tiên cần phải có sự cải thiện chất lượng của các tạp chí Việt Nam. Tiếp đó là cơ chế hỗ trợ ngôn ngữ cho các nhà khoa học. Và cuối cùng, là sự tôn trọng tinh thần tự do học thuật, để có thể phát triển được các ý tưởng khoa học tốt nhất.

Giá trị của khoa học nằm ở khả năng thay đổi chất lượng cuộc sống. Đối với KHXH&NV, khả năng thay đổi cũng sẽ còn khó khăn hơn khi nó còn chạm đến văn hóa và đời sống tinh thần của người dân.

*Thông tin thư viện (APA):

Pham, L., & Hayden, M. (2019). Research in Vietnam: The experience of the humanities and social sciences. Journal of International and Comparative Education, 8(1), 27-40, URL: https://jice.um.edu.my/article/view/17628.


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):