CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Những phẩm chất làm nên một nhà khoa học

SSHPA (06-08-2019) — Những phẩm chất nào làm nên danh dự, phẩm hàm của một nhà khoa học? Số lượng công bố, chất lượng công trình, hay ảnh hưởng tới đồng nghiệp?

Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, nhà nghiên cứu kì cựu John P. Sumpter (Brunel University London, Anh Quốc) đã chia sẻ về những phẩm chất thường hiện diện ở một nhà khoa học thực thụ.

Hệ số đo lường: tổng số công bố, lượng trích dẫn, hay chỉ số H-Index trên Web of Science, Scopus hay Google Scholar là những thứ dễ dàng nhận thấy nhất với mỗi nhà khoa học. Tuy nhiên, khi tham khảo các hệ thống này, chúng ta cần chú ý đến sự sai lệch do trùng tên giữa các nhà nghiên cứu. Bên cạnh đó, các hệ số này cũng khó có thể áp dụng khi đánh giá các nhà khoa học trẻ, những người mới bắt đầu sự nghiệp và đang trong giai đoạn tích luỹ.

(Nguồn: Institute for Advanced Study Archives trên Wikipedia)

Ảnh hưởng học thuật: Một nhà nghiên cứu với một công trình làm thay đổi một ngành, hay cả xã hội chắc chắn là một nhà nghiên cứu hàng đầu. Tuy nhiên, tác động tới xã hội của một nghiên cứu khó xuất hiện ngay tức khắc mà sẽ mất nhiều năm, thậm chí thập kỉ để có thể thấy rõ.

Ảnh hưởng đại chúng: Rất nhiều nhà nghiên cứu xây dựng ảnh hưởng thông qua truyền thông đại chúng, mạng xã hội, hay các cuốn sách phổ thông. Tuy nhiên, mặt trái của sự nổi tiếng này là các kết quả nghiên cứu trái chiều, thậm chí thiếu bằng chứng khoa học lại có thể khiến số đông xôn xao nhiều hơn là các đóng góp có giá trị đích thực.

Giảng dạy: Nếu xét tới giảng dạy chính thức thì các nhà nghiên cứu tại các trường đại học sẽ dành nhiều thời gian hơn cho công việc này. Tuy nhiên, về cơ bản mỗi nhà nghiên cứu sẽ đứng lớp ít nhất 2-3 lần trong một năm, và sẽ truyền cảm hứng cho ít nhất 1 lớp sinh viên trong suốt sự nghiệp của mình. Tác giả Sumpter đánh giá công việc giảng dạy đóng góp nhiều hơn tới di sản của một nhà nghiên cứu hơn là nghiên cứu hay công bố. Tuy nhiên, việc tiến hành ‘đo’ một cách chuẩn xác tầm quan trọng của giảng dạy không dễ.

Hướng dẫn các nhà khoa học trẻ: Mặc dù có thể coi đây là một hình thức giảng dạy, tuy nhiên sự khác biệt nằm ở chỗ công việc hướng dẫn là hoạt động đào tạo trực tiếp một – một giữa nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm và các thế hệ nhà nghiên cứu kế tục. Hoạt động này thường là trong giai đoạn nghiên cứu sinh tiến sĩ của một nhà nghiên cứu trẻ, là thời gian họ khám phá và phát triển hết mức tiềm năng của bản thân. Vì thế, một người hướng dẫn giỏi trong giai đoạn này sẽ giúp đảm bảo một thế hệ kế cận được chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng.

Lãnh đạo: Trở thành lãnh đạo một nhóm, một phòng lab, hay cả một tổ chức nghiên cứu là một công việc tốn nhiều công sức, thời gian. Người lãnh đạo sẽ khó có thể tập trung, trực tiếp tham gia vào công việc nghiên cứu. Nhưng bù lại, người lãnh đạo tốt sẽ giải quyết các vấn đề quan trọng khác như tìm kiếm tài trợ, quản lý, hay tạo cơ hội tối đa cho các nhà nghiên cứu khác làm việc.

Nhân cách xứng đáng: Bên cạnh trí tuệ của mình, một nhà nghiên cứu thực thực cũng sẽ cần đến những tính cách như: tính khách quan; tính học hỏi khám phá; tầm nhìnl khả năng hoàn thành, đóng gói sản phẩm khi đến lúc; kĩ năng giao tiếp; sự chăm chỉ; chấp nhận thất bại; sự khảng khái, chính trực.

Các đánh giá trên đây hoàn toàn là ý kiến chủ quan dự trên kinh nghiệm của nhà nghiên cứu John P. Sumpter (Brunel University London, Anh Quốc). Tuy nhiên, khó có thể phản đối quan điểm của ông. Hiện tại, áp dụng hệ số đánh giá phần nào mang lại sự khách quan, nhưng đồng thời cũng gây ra các hành vị khoa học sai trái. Tác giả Sumpter hy vọng giáo dục và đào tạo tốt hơn sẽ cải thiện tình hình, giúp các nhà nghiên cứu trở thành các nhà khoa học thực thụ, vì chỉ có các nghiên cứu tốt mới giúp ích được cho xã hội.

*Tham khảo:

Sumpter, J. P. (2019). What makes a good scientist? Karl Fent as an example. Journal of Hazardous Materials, 376, 233-238, DOI: 10.1016/j.jhazmat.2019.05.016.


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):