CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Đặc trưng của các nghiên cứu giàu trích dẫn

SSHPA (24-08-2019) — Tác giả Mohamed Elgandi (University of British Columbia, Canada) đã công bố nghiên cứu lý thú về các nghiên cứu giàu trích dẫn trên tạp chí IEEE Access [2018 JIF = 4.098; 2018 CiteScore = 4.96].

Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu 200 công bố từ năm 2017 của nhà xuất bản MDPI, với một nửa là các bài viết giàu trích dẫn và nửa còn lại nghèo trích dẫn hơn, để thực hiện phân tích. Bên cạnh đó, dựa trên 3 hệ thống chỉ mục khoa học là Google Scholar, Web of Science (WoS), và Altmetric, tác giả Elgandi cũng đã lựa chọn thêm 100 nghiên cứu giàu trích dẫn từ mỗi hệ thống để có sự so sánh hợp lý.

(Nguồn: Citation Machine)

Sử dụng thuật toán machine learning có tên gọi principal component (PC) analysis, tác giả Elgandi đã phát hiện ra những đặc trưng lý thú của các nghiên cứu giàu trích dẫn. Các kết quả này sau đó được Nature Index đăng tải lại với tên ngắn gọn: 5 features of a highly cited article.

***

Tên bài chỉ từ 7 – 13 từ

Hầu hết các bài viết giàu trích dẫn đều có tên bài rất ngắn, với độ dài tổng thể chỉ là 10 từ, cộng hoặc trừ 3 từ. Điều này được kiểm chứng ở cả 4 cơ sở dữ liệu mà tác giả sử dụng, với 4 nghiên cứu giàu trích dẫn nhất trên 4 CSDL có độ dài là 7 (WoS; Almetric), 8 (MDPI) và 13 (Google Scholar) từ.

Các từ quen thuộc trong tiêu đề

Các nghiên cứu giàu trích dẫn thường có 1 số từ thông dụng thường dung. Sau đây là top 5 các từ thường dung cho mỗi CSDL mà tác giả Elgandi sử dụng.

  • MDPI: Review, cancer, monitoring, recent, và therapeutic.
  • Google Scholar: Method, theory, analysis, applications, và learning.
  • Web of Science: Method, protein, DNA, multiple, và new.
  • Altmetric: Association, analysis, cancer, health, và study.

(Nguồn: Elgandi, 2019)

Sáu tác giả hoặc nhiều hơn

Tác giả Elgandi tìm thấy sự tương quan giữa số lượng tác giả và số lượng trích dẫn. Theo ông, khi một nghiên cứu có đông tác giả, mỗi tác giả sẽ đóng góp công sức để giúp bài được đọc nhiều hơn, vì thế, tăng khả năng bài được trích dẫn. Bên cạnh đó, điều này cũng có thể cho thấy các khoa học hiện nay đòi hỏi tính đa ngành, liên ngành cao, vì thế các công trình có ảnh hưởng cũng có xu hướng cần nhiều tác giả hợp tác hơn.

35.000 kí tự không tính cách chữ

Các nghiên cứu giàu trích dẫn thường có khoảng 35.000 kí tự, không bao gồm cách chữ, và tính cả tài liệu trích dẫn, tức rơi vào khoảng 5.500 từ.

6 hình, 2 bảng

Khi nhắc đến ‘nghiên cứu khoa học’, yếu tố hình ảnh thường ít được coi là quan trọng. Mặc dù vậy, phân tích của tác giả Elgandi cho thấy các nghiên cứu giàu trích dẫn thường có nhiều hình và bảng hơn.

***

(Nguồn: Wikimedia/CC BY 2.5)

Một điểm cần chú ý là các yếu tố này không phải là lí do khiến các nghiên cứu đạt được lượng trích dẫn lớn. Còn nhiều yếu tố khác mang tính tiên quyết hơn như chất lượng khoa học, tính khai mở của nghiên cứu, tên tuổi tác giả hay tạp chí, mức độ mở của bài …

Chỉ khi nào có được các yếu tố tiên quyết này, thì có lẽ kết quả của tác giả Elgandi mới thực sự hữu ích để giúp một nghiên cứu có thêm lượng đọc và trích dẫn.

*Tham khảo:

Elgandi, M. (2019). Characteristics of a highly cited article: A machine learning perspective. IEEE Access, doi:10.1109/ACCESS.2019.2925965.

Elgandi, M. (2019). 5 features of a highly cited article. Nature Index. Retrieved from https://www.natureindex.com/news-blog/five-features-highly-cited-scientific-article (August 24, 2019).


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):