CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Xu hướng và thử thách với quản trị và lãnh đạo giáo dục đại học tại Việt Nam

SSHPA (02-10-2019) — Trong khoảng 2 tháng trở lại đây, giáo dục đại học tại Việt Nam liên tiếp đón nhận các tin tốt như trường Đại học Tôn Đức Thắng lọt vào bảng xếp hạng Academic Ranking of World Universities (ARWU), hay nhiều người Việt lọt vào top 100.000 nhà nghiên cứu có trích dẫn nhiều nhất thế giới. Hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam có khoảng 454 cơ sở giáo dục đại học/cao đẳng, trong đó có 95 trường tư nhân, và khoảng 2.2 triệu sinh viên. Tuy nhiên, cơ cấu quản trị và cách thức lãnh đạo của giáo dục đại học vẫn chưa kịp theo sự phát triển của môi trường đại học.

Hai tác giả Jamil Salmi (Diego Portales University, Chile) và Phạm Thị Ly (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) đã thực hiện một nghiên cứu rà soát tổng quan về quản trị và lãnh đạo học thuật tại Việt Nam. Bài viết có tựa đề Academic Governance and Leadership in Vietnam: Trends and Challenges được đăng trên tạp chí Journal of International and Comparative Education [ESCI], thuộc nhà xuất bản trường đại học University of Malaya, Malaysia.

Về khía cạnh cơ cấu quản trị, các tác giả đánh giá yếu tố này của hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn còn phân mảnh. Ví dụ như 54 trường đại học công được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng lại có 260 trường đại học và cao đẳng khác đang được quản lý trực tiếp bởi 15 bộ và hơn 60 sở nhà nước và chính quyền tỉnh.

Một góc khuôn viên Trường Đại học Phenikaa, Hà Nội (Ảnh: Hồ Mạnh Toàn).

Mặc dù Việt Nam đầu tư khá nhiều ngân sách cho giáo dục, đầu tư vào giáo dục đại học lại khá ít ỏi (chỉ có khoảng 15% tổng số chi tiêu công dành cho giáo dục). Chính vì vậy, các trường đại học tại Việt Nam cũng gặp khá nhiều khó khăn trong duy trì quỹ hoạt động: đầu tư từ các bộ ban ngành, và học phí.

Kiểm định chất lượng cũng là một khía cạnh mà giáo dục đại học tại Việt Nam còn thiếu sót. Mặc dù một số trường đại học đã có ban kiểm định chất lượng riêng, nhưng hiện này vẫn chưa có một tổ chức kiểm định chất lượng độc lập hoàn toàn trong hệ thống, cũng như yêu cầu về kiểm định chất lượng vẫn chưa trở thành yêu cầu chính thức trên toàn quốc.

Ở tầm cơ sở, trong khi quản trị và lãnh đạo tại các trường đại học công lập gặp nhiều sự ràng buộc, quản lý, thì các trường đại học tư lại có được sự tự chủ tài chính, nhân sự, hay phát triển chính sách và quy chế hoạt động. Mặc dù vậy, các cơ sở tư nhân cũng vẫn cần phải đáp ứng được yêu cầu về chương trình học hay các yêu cầu đánh giá do Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra, vì thế cũng có nhiều trường tư chưa thực sự tận dụng được sự tự chủ của mình.

Sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam xuất phát từ các yếu tố như sự phát triển kinh tế, sự cạnh tranh trên cả nước, giới hạn của nguồn lực công, và các chính sách kinh tế mở cửa. Các yếu tố này đã thúc đẩy sự tham gia và phát triển của các trường đại học tư và quốc tế. Bên cạnh đó, các đề án quốc gia như Đề án 911 đã góp phần đào tạo nhiều cá nhân có năng lực, hiện nắm giữ các vị trí quan trọng.

Mặc dù quá trình thay đổi diễn ra còn chậm nhưng quản lý và lãnh đạo giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn đang tiếp tục thúc đẩy sự tự chủ, tính thị trường và cởi mở của giáo dục đại học.

*Thông tin thư viện (APA):

Salmi, J., & Pham, T. L. (2019). Academic governance and leadership in Vietnam: Trends and challenges. Journal of International and Comparative Education, 8(2), p. 103-118, doi: 10.14425/jice.2019.8.2.103.


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):