CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Việt Nam tăng trưởng học thuật nhanh nhất kể từ 2009: Báo cáo toàn cầu về nghiên cứu khoa học tại Đông và Nam Á

SSHPA (05-10-2019) — Dựa trên dữ liệu của Web of Science, Institute for Scientific Information (ISI) mới đây đã công bố báo cáo Global Research Report – South and East Asia, mô tả chi tiết tiềm năng chưa được khám phá hết của nghiên cứu khoa học tại khu vực Đông và Nam Á. Báo cáo đã công bố đầy đủ tình hình năng suốt nghiên cứu, hợp tác quốc tế, và ảnh hưởng học thuật của 14 quốc gia tại khu vực này, bao gồm: Lào, Myanmar, Brunei, Campuchia, Sri Lanka, Philippines, Bangladesh, Indonesia, Thái Lan, Pakistan, Malaysia, Singapore, Ấn Độ và Việt Nam.

Bản đầy đủ của báo cáo cũng thể được truy cập tại ĐÂY.

Về năng suất khoa học, dữ liệu từ Web of Science cho thấy kể từ năm 2000, sản lượng nghiên cứu tại Đông và Nam Á đã tăng mạnh đóng, hiện chiếm 8% tổng số lượng công bố toàn cầu hàng năm. Việt Nam là quốc gia trong khu vực có sự tăng trưởng nhanh nhất, với lượng công bố được chỉ mục hoá tăng đã tăng gấp năm lần kể từ năm 2009.

Ngoài ra, báo cáo cũng tính toán giá trị Category-Normalised Citation Impact hay CNCI. Đây là hệ số trung bình phản ánh ảnh hưởng học thuật của một công bố dựa trên số lần công bố được trích dẫn bởi các công bố khác. Hai hệ số được báo cáo sử dụng là CNCI-gross (tính tất cả các bài báo có sự xuất hiện của 1 quốc gia) và CNCI-domestic (không tính các công bố  có hợp tác quốc tế). Trong giai đoạn 2014-2018, Việt Nam có có CNCI-gross = 1.20 và CNCI-domestic = 0.67 (Trung bình toàn cầu = 1.0).

Sự tăng trưởng của sản lượng công bố tại Đông và Nam Á có sự đóng góp đáng kể từ quá trình hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực và với các nền khoa học phát triển hơn. Theo đánh giá của các tác giả, hợp tác học thuật tại khu vực có sự tăng trưởng tốt là nhờ thông tin về các hội nghị được tiếp cận dễ dàng hơn, việc di chuyển cũng thuận tiện hơn; các dự án quốc tế trong các lĩnh vực lớn hiện nay như sức khoẻ, môi trường, hay vật lý cũng cung cấp thêm nhiều cơ hội cho các nhà khoa học; và đặc biệt là tính chất toàn cầu của các vấn đề khoa học hiện nay. Mạng lưới hợp tác quốc tế của khu vực Đông và Nam Á được báo cáo đồ thị hoá như ở hình dưới. Có thể thấy, Việt Nam có sự kết nối với hầu hết các nền khoa học phát triển trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh, hay trong châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc hay Hàn Quốc.

Hồ sơ ảnh hưởng (Impact Profiles) thể hiện phân phối của giá trị CNCI trong giai đoạn 2009–2018. Trong giai đoạn này, Việt Nam có tổng cộng 26742 bài báo được chỉ mục hoá, nhưng chỉ có 5859 bài báo là do người Việt đứng tên hoàn toàn. Bên cạnh đó, cũng có đến 35% các bài báo toàn Việt là thuộc nhóm chưa bao giờ được trích dẫn, so với 25% tổng cộng và 22% các bài báo hợp tác quốc tế.

Báo cáo cho thấy nghiên cứu tại khu vực Đông và Nam Á vẫn cần nhiều thời gian để có thể đuổi kịp các quốc gia châu Âu hay các nền khoa học phát triển tại châu Á. Nhóm tác giả gợi ý 3 yếu tố chính sẽ góp phần thúc đầy khoa học tại khu vực này: nhân sự, môi trường nghiên cứu, và nguồn lực đầu tư cho khoa học và giáo dục.

Tham khảo thêm cho từng khu vực, báo cáo Global Research Report – South and East Asia cũng gợi ý các tài liệu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ các quốc gia trong khu vực. Bốn bài nghiên cứu của các tác giả Việt Nam được trích dẫn bao gồm:

  • Nguyen T V, Ho-Le T P and Le U V. (2017). International collaboration in scientific research in Vietnam: an analysis of patterns and impact. Scientometrics, 110, 1035-1051
  • Nguyen T V and Pham L T. (2011). Scientific output and its relationship to knowledge economy: an analysis of ASEAN countries. Scientometrics, 89, 107-117.
  • Phuong T T, Duong H B and McLean G N. (2015). Faculty development in Southeast Asian higher education: a review of literature. Asia Pacific Education Review, 16, 107-117.
  • Vuong Q H. (2019). The harsh world of publishing in emerging regions and implications for editors and publishers: The case of Vietnam. Learned Publishing, 32(4), 314-314; DOI: 10.1002/leap.1255

Trong đó, hai bài viết của tác giả Nguyễn Văn Tuấn là các nghiên cứu trắc lượng khoa học về Việt Namcác nước ASEAN. Hai tác phẩm còn lại các các bài rà soát tổng quan chi tiết về phát triển đội ngũ giảng viên tại giáo dục đại học Đông Nam Á, và sự phát triển của xuất bản học thuật tại Việt Nam. Với tính chất là một báo cáo toàn cầu, các tác phẩm được nhóm tác giả gợi ý chắc hẳn đều có tính đại diện cao, chạm đến một cách đầy đủ các vấn đề về nghiên cứu và phát triển học thuật tại mỗi quốc gia. Bên cạnh các tác phẩm này, SSHPA xin được giới thiệu thêm một số nghiên cứu có thể tham khảo bổ sung:

  • Manh, H. D. (2015) Scientific publications in Vietnam as seen from Scopus during 1996–2013. Scientometrics, 105, 83–95.
  • Ho, M. T., et al. (2017). On the sustainability of co-authoring behaviors in Vietnamese social sciences: A preliminary analysis of network data. Sustainability, 9(11), 2142.
  • Vuong, Q. H. et al. (2017). Nemo solus satis sapit: Trends of research collaborations in the Vietnamese social sciences, observing 2008–2017 Scopus data. Publications, 5(4), 24.
  • Salmi, J., & Pham, T. L. (2019). Academic governance and leadership in Vietnam: Trends and challenges. Journal of International and Comparative Education, 8(2), 103-118, doi: 10.14425/jice.2019.8.2.103.

*Bản đầy đủ của báo cáo cũng thể được truy cập tại ĐÂY.

*Tác giả: Hồ Mạnh Toàn (AISDL-SSHPA).

*Cập nhật: Bài đã được chỉnh sửa và đăng trên báo điện tử Vietnamnet ngày 8-10-2019, với tựa đề "Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất khu vực Nam và Đông Nam Á về công bố khoa học". *URL: https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/bao-cao-nghien-cuu-toan-cau-tai-nam-va-dong-nam-a-viet-nam-tang-truong-nhanh-nhat-khu-vuc-574891.html


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):