CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Toàn cảnh nghiên cứu sinh tiến sĩ: Nature khảo sát toàn cầu

SSHPA (24-11-2019; Tóm lược của Nguyễn Thanh Thanh Huyền - trường ĐH Ngoại thương Hà Nội) — Tổng hợp kết quả khảo sát hơn 6000 nghiên cứu sinh tiến sĩ trên toàn thế giới, bài viết PhDs: the tortuous truth đăng trên tạp chí Nature đã phác họa bức tranh toàn cảnh về cuộc sống khó khăn của nghiên cứu sinh. Đây là cuộc khảo sát lần thứ năm của tạp chí này về trải nghiệm của các nghiên cứu sinh tiến sĩ trên khắp thế giới. Trong đó, 36% từ Châu Âu, 28% từ Châu Á, 27% từ Bắc và Trung Mỹ, 9% từ Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Đại Dương.

© Anh Hoang Ho

Kết quả khảo sát cho thấy những thái độ trái chiều của nghiên cứu sinh. Ở phần bình luận tự do, nhiều người bày tỏ thất vọng và nản lòng với cách đào tạo, cân bằng công việc và cuộc sống, và các hành vi bắt nạt quấy rối nơi làm việc. Qua chia sẻ của người tham gia về sức khỏe tinh thần, các góc tiêu cực của giáo dục sau đại học cũng được hé lộ.

Dù vậy, tỷ lệ nghiên cứu sinh cảm thấy phần nào đó hài lòng với quyết định học tiến sĩ của mình vẫn nhiều hơn số người thất vọng nhờ ba động lực chính là: theo đuổi tri thức, cơ hội làm việc cùng những cá nhân thú vị, và môi trường học thuật. Nhưng tỷ lệ đó đã giảm từ 78% vào năm 2017 xuống còn 75%. Đối với 45% nghiên cứu sinh được khảo sát, mức độ hài lòng với trải nghiệm học tập nghiên cứu của họ cũng giảm đi theo thời gian.

Hành trình gian nan

Trên thực tế, nhiều nghiên cứu sinh phải vượt qua khoảng cách địa lý lớn để học tập. 40% người được khảo sát đi học ở nước ngoài. 36% người trả lời khảo sát nói rằng họ đang tìm kiếm sự trợ giúp ở cơ quan để làm vơi bớt sự lo lắng hoặc trầm cảm khi học tiến sĩ (mà trước đây 2 năm, con số này chỉ 12%, nhưng chỉ có những người coi sức khỏe tinh thần là mối quan tâm hàng đầu của họ mới được trả lời câu hỏi này). Kết quả nghiên cứu của WHO cũng cho kết quả tương tự, khoảng 31%. Khảo sát về tình trạng sức khỏe tinh thần của sinh viên đại học cho con số 19%. Các số liệu cũng phản ánh được rằng có nhiều người nhận thức hơn về bệnh trầm cảm và lo âu. Dù vậy, các trường đại học lại ít khi hỗ trợ nghiên cứu sinh về vấn đề này. Chỉ có 26% người tham gia khảo sát nói rằng họ được trường giúp đỡ, 10% muốn mà không có.

© MyMy Pham

Mất cân bằng cuộc sống

Khi làm rõ nguồn cơn của vấn đề trên, khảo sát thấy rằng mối quan tâm lớn nhất của nghiên cứu sinh năm 2019 là: tương lai công việc, cân bằng công việc và cuộc sống. Nhưng cũng có sự khác biệt giữa các khu vực: Ở Châu Phi và Châu Á, gánh nặng tìm nguồn tài trợ nghiên cứu lớn hơn nhiều so với Châu Âu, Bắc và Trung Mỹ. Nhiều người mắc hội chứng kẻ mạo danh (impostor syndrome), thấy lạc lõng ở nơi làm việc. Nghiên cứu sinh ở Châu Âu đặc biệt lo lắng về vấn đề cân bằng cuộc sống, giống với 40% tổng số người trả lời khảo sát. Ngoài ra, chăm sóc gia đình cũng là thử thách lớn với nghiên cứu sinh. Nhưng khi nhìn sâu vào vấn đề, sự mất cân bằng ấy lại là hệ quả của rất nhiều vấn đề khác, ví dụ thiếu tài trợ.

Ít kỳ vọng hơn

Nhìn chung, 75% người tham gia khảo sát thấy hài lòng với mức độ tự lập của bản thân; 67% thấy thích mối quan hệ với nhà nghiên cứu chính. Nhưng ngay cả những người hài lòng vẫn thấy những điểm không tốt về chương trình học của họ. Khi 42% người trả lời sự hài lòng của họ nâng lên theo thời gian, 45% nói ngược lại. Nguyên nhân chính là chương trình học không đáp ứng được kỳ vọng của họ. Năm nay, chỉ 10% thấy thời gian nghiên cứu vượt quá kỳ vọng (năm 2017 là 23%), mà gần 40% có trải nghiệm trái ngược hẳn. Vậy nên, trước khi chuẩn bị nghiên cứu tiến sĩ, sinh viên cần có cái nhìn thực tế hơn. Họ cần biết rằng nhiều người xung quanh cũng cảm thấy lạc lõng ở môi trường học thuật; và về sau sẽ có lúc họ chẳng thấy yêu quý việc nghiên cứu như thuở ban đầu.

© MyMy Pham

Quấy rối và phân biệt

Hiện nay, hành động quấy rối và phân biệt đang trở nên phổ biến. 21% nghiên cứu sinh tham gia khảo sát là nạn nhân của các hành vi trên, xấp xỉ tỷ lệ người bị bắt nạt. Khoảng ¼ nữ giới bị quấy rối và phân biệt đối xử, cao hơn so với nam giới. Bắc Mỹ là nơi có tỷ lệ báo cáo lại các hành vi trên cao nhất (24%), và Châu Đại Dương là thấp nhất (18%). Tuy nhiên, 57% cảm thấy không thể nói về tình trạng của họ vì sợ bị trù dập.

Học viên cũng thường xuyên chịu áp lực vì thời gian làm việc dài. Hơn nửa cho rằng đây là văn hóa làm việc của trường, và thi thoảng họ phải làm qua đêm. Tỉ lệ người làm việc quá 50 giờ/ tuần cũng khoảng 50%, không thay đổi mấy so với 2017. 85% người làm quá 41 giờ/ tuần cảm thấy không hài lòng về tình trạng của họ.

Tương lai vô định

Dù làm việc nhiều giờ, nghiên cứu sinh không phải lúc nào cũng chắc chắn rằng tương lai họ sẽ gặt hái được thành quả. Chỉ 26% nghĩ rằng chương trình tiến sĩ là bước chuẩn bị tốt cho nghề nghiệp. Khoảng ⅔ nghĩ rằng công việc tương lai sẽ cải thiện. Và dù các trường đại học trên toàn cầu đang thiếu thốn nhân lực, 56% người tham gia khảo sát để lựa chọn nghề nghiệp đầu tiên là theo đuổi giấc mơ học thuật. Dưới 30% muốn làm ở khu vực tư. Còn lại là làm cho chính phủ, ngành dược hoặc NGO. Năm 2017, 52% chọn vào các học viện và 22% chọn khu vực tư.

© Anh Hoang Ho

Kết luận

Kết quả khảo sát cho thấy các viện nghiên cứu cần thay đổi để thích ứng với thế giới và con người mới. Dù phần lớn nghiên cứu sinh hài lòng với chương trình học, lắng nghe nhu cầu của họ vẫn rất quan trọng và cần được để ý.

Bên cạnh cuộc khảo sát lớn của Nature ‘mẹ’, độc giả cũng có thể tìm hiểu về khó khăn của nghiên cứu sinh tiến sĩ, sau tiến sĩ, và các nhà khoa học trẻ trong 57 bài viết trên trang cộng đồng trang cộng đồng Behavioural & Social Sciences của Nature Research. Bên cạnh đó, ý kiến của các chuyên gia cũng được tổng hợp trong chuyên đề PhDs under publication pressure trên tạp chí Nature Human Behaviour [2018 JIF = 10.575; CiteScore = 3.88] thông qua 28 bài viết. Đáng chú ý, các tác giả Việt Nam cũng đều đã đóng góp tiếng nói của mình:

  • Quan điểm vượt rào trong công bố học thuật cần một thái độ chủ động trong hành trình nghiên cứu Breaking barriers in publishing demands a proactive attitude trong số chuyên đề Nature Human Behaviour tháng 10-2019 (vol. 3);
  • Và chia sẻ về hành trình làm nghiên cứu đầu đời trong bài viết To walk on the Penrose stairs of science của các tác giả Hồ Mạnh Toàn, Nguyễn Tô Hồng Kông, Vương Thu Trang, Nguyễn Minh Hoàng, và Hồ Mạnh Tùng trên trang cộng đồng Nature Social Sciences Community.

Nguyễn Thanh Thanh Huyền (Đại học Ngoại thương, Hà Nội)


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):