CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Những gì các viện nghiên cứu có thể làm để cải thiện truyền thông khoa học

SSHPA (17-12-2019; Nguyễn Thanh Thanh Huyền) — Tác giả Jessica Eise (Purdue University Brian Lamb School of Communication, Hoa Kỳ) đã chia sẻ các trở ngại mà các cơ quan nghiên cứu cần giải quyết để có thể làm truyền thông khoa học hiệu quả. Bài viết được đăng tải trên Nature ngày 13 tháng 12 vừa qua.

Truyền thông khoa học không được chú trọng tập huấn, đào tạo

Rất ít các trường đại học và các viện nghiên cứu hiện nay có các chương trình tập huấn các nhà nghiên cứu về truyền thông khoa học. Vì vậy, các trung tâm luyện kỹ năng truyền thông dành riêng cho các nhà nghiên cứu đang dần có mặt ở trên khắp thế giới. Bên cạnh đó, các trưởng nhóm nghiên cứu cũng có thể thuê các khóa học ngắn cho đồng nghiệp, bất kể họ thuộc ngành gì. Đối với các trường đại học, các ban/bộ phận truyền thông hoặc một nhà báo địa phương sẽ là những nguồn hữu ích giúp trường biết cách hiệu quả nhất để truyền đạt kết quả nghiên cứu tới công chúng.

(Nguồn: Image by Gerd Altmann from Pixabay)

Các nhà khoa học không có động lực để phổ biến kết quả nghiên cứu

Thông thường, truyền thông khoa học thường là một yêu cầu thêm từ các cơ quan chủ quản với các nhà nghiên cứu. Vì thế nó thường không mang lại phần thưởng có giá trị nào (ví dụ: thăng chức, tăng lương, …) nhưng cũng tiêu tốn rất nhiều thời gian của mỗi nhà khoa học. Vì vậy, các nhà nghiên cứu cần có thêm những động lực ý nghĩa để họ có cảm thấy thoải mái sử dụng quỹ thời gian từ những công việc khác cho việc truyền thông.

Ví dụ, các học giả thường mong muốn có sự nghiệp ổn định hoặc thăng tiến nhờ công bố khoa học. Nếu các cơ sở nghiên cứu thực sự quan tâm đến truyền thông khoa học, họ nên gắn các giá trị thực tế vào nỗ lực truyền thông của các nhà khoa học. Đơn giản như 8 bài truyền thông cho công chúng có thể tương đương với một bài công bố khoa học.

Cần nhiều hơn đóng góp từ các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

Các vấn đề mà xã hội ngày nay cần giải quyết không gói gọn trong một ngành. Các nghiên cứu khoa học xã hội sẽ giúp các nghiên cứu tự nhiên không đơn thuần chỉ nằm ở khía cạnh kĩ thuật mà có thể bao trùm được các yếu tố kinh tế, xã hội, hay hành vi con người. Thí dụ, một số nghiên cứu y học đã sử dụng mạng xã hội và blog để tìm hiểu hành vi con người có tác động gì đến sức khỏe, từ đó lên kế hoạch tốt hơn cho các tổ chức sức khỏe.

Sự hiểu biết về các khía cạnh xã hội và nhân văn như lịch sử, văn chương, nghệ thuật của các nhà khoa học xã hội sẽ giúp điều chỉnh các nghiên cứu theo hướng có ích với cộng đồng, có các tác động chính sách rõ rệt hơn, và truyền đạt thông tin gần gũi tới công chúng hơn.

(Nguồn: Image by Gerd Altmann from Pixabay)

Có nhiều nguồn và cơ hội đào tạo, hợp tác và lập nhóm để hỗ trợ truyền thông khoa học. Phát triển kế hoạch truyền thông cho một tổ chức khoa học có thể là một khoản đầu tư dài hạn, nhưng tốn ít chi phí và có thể đem lại lợi ích khổng lồ. Truyền thông hiệu quả về giá trị của nghiên cứu khoa học có thể hỗ trợ công việc xây dựng chính sách và tăng tài trợ công. Ngược lại, cái giá của việc thiếu vắng khâu truyền thông là vô cùng lớn vì không ai tài trợ một nghiên cứu mà họ không hiểu. Đồng thời tác động tới xã hội cũng rất lớn khi các vấn đề hoài nghi khoa học hay không tin biến đổi khí hậu cũng một phần xuất phát từ việc các nhà khoa học không thể truyển tải được các kết quả nghiên cứu của mình một cách dễ hiểu.

Nguyễn Thanh Thanh Huyền (Đại học Ngoại thương, Hà Nội)


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):