CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Đối với một giáo sư Nhật Bản, nghiên cứu bao nhiêu là đủ?

SSHPA (20-3-2020) — Để trả lời cho những vấn đề này, vào cuối năm 2018, tạp chí Open Review of Educational Research (thuộc chỉ mục ESCI của Web-of-science), NXB Taylor & Francis đã duyệt đăng một nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu với thông tin của hơn 250,000 các học giả tại Nhật Bản kéo dài hơn 30 năm (từ 1986 tới 2016). Nghiên cứu được thực hiện bởi Ayano Fujiwara, Viện Chính sách Khoa Học và Công nghệ Quốc Gia (National Institute of Science and Technology Policy, NISTEP) – trực thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa, Công nghệ, Khoa học và Thể Thao Nhật Bản.

Trải qua gần 10 tháng phản biện, vào ngày 28 tháng 10 năm 2018, tác phẩm có tên “When can academic researchers rest? An event history analysis on researchers’ research productivity and promotion in academia from 1980 to 2016 in Japan” đã ra đời, bao gồm ba nội dung chính. Trước nhất, tác giả đã thống kê và so sánh những tiêu chí để trở thành Giáo sư trong các lĩnh vực như Xã hội và Nhân văn, Khoa học và Cơ khí, Y Dược. Thứ hai, nghiên cứu tìm hiểu mối tương quan giữa cơ hội thăng tiến khi năng suất làm việc của các nhà nghiên cứu giảm. Và cuối cùng, tác giả chỉ ra đâu là quãng thời gian trong sự nghiệp mà việc giảm năng suất sẽ ít ảnh hưởng nhất tới cơ hội trở thành Giáo sư.

Để kiểm tra các giả thuyết, phương pháp phân tích các sự kiện trong quá khứ (continuous-time event history analysis) được áp dụng trên cơ sở dữ liệu lớn nhất Nhật Bản, “Researchmap”, của Quỹ nghiên cứu Khoa Học và Công Nghệ Nhật Bản (Japanese Science & Technology Agency, JST). Sau khi lọc bỏ những hồ sơ đã không được cập nhật kể từ tháng 1 năm 2015, những nghiên cứu sinh không có công trình nghiên cứu nào hay những người đã có công trình từ trước năm 1980, thông tin của 14014 nghiên cứu sinh đã được nghiên cứu để xác định khả năng xảy ra của các biến thay đổi như thế nào theo thời gian.

Kết quả đã chỉ ra những nguồn tài trợ (grant, funding sources) là yếu tố quan trọng nhất để đạt được học vị Giáo sư; khi nhận thêm tài trợ từ 1 đơn vị, cơ hội trở thành Giáo sư tăng thêm 3%. Con số này chỉ là 1% khi xuất bản thêm được 1 cuốn sách hoặc được đăng tải thêm 1 bài báo trên 1 tạp chí thuộc danh mục Scopus. Bên cạnh đó, sự suy giảm trong năng suất lao động cũng giảm thiểu cơ hội được thăng tiến, cụ thể, một năm không có công trình nghiên cứu được đăng tải sẽ giảm đi 0,15% cơ hội. Cuối cùng, quãng thời gian 5 năm đầu và khoảng 20 năm tới 30 năm từ lúc bắt đầu sự nghiệp là các giai đoạn mà việc công bố, đăng tải liên tục các nghiên cứu là tối quan trọng.

Những phát hiện này rất hữu dụng trong việc cân bằng giữa cuộc sống và công việc với giới học giả, đặc biệt là các nhà nghiên cứu nữ. Bởi lẽ, theo tác giả, chỉ cần những công trình nghiên cứu được xuất bản, công bố liên tục trong 5 năm đầu tiên thì sẽ không cần thiết để lo lắng cho cơ hội trở thành Giáo sư khi tạm dừng để kết hôn hay sinh con và nuôi con.

Ngoài nghiên cứ trên, được biết, tác giả Ayano Fujiwara này đã có những tác phẩm đăng tải trên những tạp chí uy tín như International Journal of Innovation Management (2017),Asian History and Culture (2018).

<> Bài đóng góp của Nguyễn Quốc Hùng, Ritsumeikan Asia Pacific University, Nhật Bản (email: [email protected])


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):