CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

FDI và sự phát triển bền vững

SSHPA (22-3-2020) — Trong thời đại toàn cầu hóa, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Do đó, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp để đánh giá những tác động của FDI tới các nước nhận được sự đầu tư. Một phương pháp thường xuyên được giới chuyên gia sử dụng là phân tích chi phí giao dịch, bởi phương pháp này có thể đánh giá khá đầy đủ những mặt lợi và hại của dòng vốn đầu tư nước ngoài.

750

Số chuyên đề Sustainability in Asian Emerging Markets thuộc tạp chí Sustainability (2018 Impact Factor = 2.592) đã đăng tải những nghiên cứu về sự phát triển xã hội và môi trường ở các nước châu Á được biên tập bởi Nguyễn Thế Ninh (Đại học La Trobe, Úc và Đại học Thương mại, Việt Nam) và Lester Johnshon (Đại học Công nghệ Swinburne, Úc).

Trong đó, bài viết với tiêu đề “Debunking the Myth of Foreign Direct Investment toward Long-Term Sustainability of a Developing Country: A Transaction Cost Analysis Approach” của nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Việt (Đại học Thương mại, Việt Nam), Phan Thành Tú (Tư vấn HKT, Đại học Hải Dương, Việt Nam) và Antonio Lobo (Đại học Công nghệ Swinburne, Úc) đã sử dụng phương pháp phân tích chi phí giao dịch để làm rõ đồng thời những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của dòng vốn đầu tư nước ngoài với sự phát triển bền vững của một quốc gia đang phát triển, mà cụ thể ở đây là Việt Nam. Dựa trên cơ sở dữ liệu của 62 tỉnh thành trên toàn quốc (trừ Điện Biên) được cung cấp bởi Cục Thống kê tại các địa phương trong khoảng thời gian từ năm 2010-2016, nhóm tác giả đánh giá sự phát triển của một địa phương thông qua chỉ số Adjusted Net Savings (ANS) của Ngân hàng Thế giới, đồng thời tập trung làm rõ ba yếu tố của FDI có thể tác động mạnh mẽ đến sự phát triển bền vững của một địa phương, đó là: tổng số vốn FDI, hiệu suất FDI, và số lượng việc làm trong khối ngành FDI.

Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy của 3 nhóm mô hình (Ordinary Least Squares (OLS) model, random effects model, fixed effects model), nhóm tác giả đã thu được những kết quả trái chiều. Theo đó, tổng số vốn FDI cùng với số lượng nhân công trong lĩnh vực này tạo nên những tác động tích cực đối với địa phương, đặc biệt với sự phát triển kinh tế. Cùng với đó, sự gia tăng của nguồn vốn FDI cũng đi kèm với sự phát triển bền vững của môi trường, điều hoàn toàn đi ngược lại kết quả của một vài công bố trước đây. Mặt khác, nhóm tác giả đã chỉ ra hiệu suất FDI không có đóng góp đáng kể đến sự phát triển bền vững của một địa phương. Điều này có thể được giải thích bằng phương pháp phân tích chi phí giao dịch, bởi các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn FDI như một hình thức để giảm thiểu chi phí thông qua việc chuyển giao những công nghệ lạc hậu hay khai thác quá mức nguồn tài nguyên môi trường của nước sở tại.

Những kết quả của nghiên cứu này góp phần quan trọng trong việc ưu tiên lựa chọn dự án FDI của các địa phương. Chất lượng nguồn vốn nên là tiêu chí hàng đầu khi lựa chọn các dự án FDI. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đưa ra các giải pháp giúp cải thiện hiệu suất của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu tập trung vào việc Chính phủ nên ban hành thêm các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để thu hút thêm các nhà đầu tư, đồng thời chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho các địa phương.

* Trần Đức Hưng Long, Ritsumeikan Asia Pacific University, Nhật Bản (Email: [email protected])


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):