CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Định nghĩa “citizen science”, góc nhìn mới hậu thảm họa Fukushima 2011

SSHPA (30-4-2020) — Nhóm nghiên cứu gồm 4 thành viên: Joke Kenens, Michiel Van Oudheusden, Go Yoshizawa và Ine Van Hoyweghen với mong muốn làm rõ thêm về khoa học của công dân đã thực hiện nghiên cứu mang tên: Science by, with and for citizens: rethinking ‘citizen science’ after the 2011 Fukushima disaster. Bài viết được đăng trên “Palgrave communications”, tạp chí chuyên biệt về khoa học xã hội và nhân văn duy nhất của Nature Research. Sử dụng hình ảnh hậu thảm họa Fukushima, nhóm nghiên cứu muốn chứng minh rằng khái niệm “citizen science”, khi khoa học vì nhân dân được tạo ra bởi người dân, mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa và lịch sử.

Ba thảm họa liên tiếp- động đất, sóng thần, hạt nhân- đã gây một tác động mạnh mẽ đến xã hội Nhật Bản, nó không chỉ gây tổn thất về vật chất mà còn làm xói mòn niềm tin của người dân đối với chính sách năng lượng tại Nhật Bản, khơi lên sự chỉ trích nặng nề khi quá dựa dẫm vào năng lượng hạt nhân của đất nước này. Cho rằng chính phủ đang che giấu thông tin, người dân Nhật đã tự tìm hiểu cách thức giám sát bức xạ bằng thiết bị đo lường của chính họ để cung cấp cho công chúng dữ liệu đáng tin cậy hơn.

Để hiểu rõ hơn về những sáng kiến khoa học tự phát như vậy, các nhà nghiên cứu đã tổ chức nhiều hội thảo để giao lưu với các “nhà khoa học công dân” tại Nhật Bản và tại Châu Âu từ năm 2017 đến năm 2019. Đồng thời một tác giả ở Nhật Bản cũng tham gia nghiên cứu thực địa và phỏng vấn với các tổ chức do chính người dân thành lập, trong đó có 14 tổ chức đo phóng xạ và 2 tổ chức khoa học. Các cuộc phỏng vấn được thực hiện ở nhiều địa điểm và các tổ chức cũng được thành lập trong những khoảng thời gian khác nhau.

Vậy khi nào thì một dự án được gọi là “citizen science”? Tại Nhật Bản, các nhà nghiên cứu còn phải cân nhắc về bối cảnh sử dụng cụm từ này. Ví dụ như những dự án được thu thập dữ liệu từ người dân để phục vụ cho việc nghiên cứu của chuyên gia, khi phát ngôn trên tạp chí sử dụng tiếng anh học thuật, các nhà nghiên cứu gọi dự án của họ là “citizen science” (tức khoa học từ người dân); nhưng khi phát ngôn với người dân, họ lại tránh sử dụng cụm từ này. Tuy nhiên, đối với những dự án được chính người dân nghiên cứu và phát triển, khái niệm “citizen science” (tức khoa học của người dân) lại có tần suất sử dụng cao hơn ở đất nước này; điển hình như sự việc được nói phía trên. Một phần lí do của cách sử dụng khác biệt này là vì những tranh cãi về quyền công dân tại Nhật Bản, khi gọi một dự án là “citizen science” người dân có quyền được biết về nó cũng như rủi ro mà nó đem đến.

Từ đó, nhóm nghiên cứu nhận thấy khái niệm “citizen science” tại Nhật Bản mang nhiều ý nghĩa phụ thuộc vào bối cảnh sử dụng. Và cũng tương tự như Nhật Bản, cụm từ này tại các quốc gia khác cũng mang tính đa nghĩa. Như vậy, để sử dụng khái niệm “citizen science” một cách chính xác, không đi trái với chính phủ mà cũng hợp lòng người dân, sự hiểu biết về văn hóa, lịch sử tại các địa phương cũng như quyền công dân tại quốc gia đó là cần thiết.  

Thông tin thư viện (APA):

Kenens, J., Van Oudheusden, M., Yoshizawa, G. et al. Science by, with and for citizens: rethinking ‘citizen science’ after the 2011 Fukushima disaster. Palgrave Communcations 6, 58 (2020). https://doi.org/10.1057/s41599-020-0434-3 

*Phạm Trung Hiếu, Ritsumeikan Asia Pacific University, Nhật Bản (Email: ph19t6ev@apu.ac.jp)

 


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):