CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Một phương pháp mới để đánh giá chất lượng chương trình đào tạo theo SDG4

SSHPA (­29-07-2020) — Ngày 24-07-2020 vừa qua, nhóm nghiên cứu dẫn dắt bới tác giả Hoàng Anh Đức (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục EdLab Asia) đã xuất bản công trình Introducing a tool to gauge curriculum quality under Sustainable Development Goal 4: The case of primary schools in Vietnam trên tạp chí International Review of Education [1].

Trong các thập niên gần đây, chúng ta chứng kiến những nỗ lực phát triển giáo dục hướng tới phát triển bền vững ở khắp mọi nơi. Năm 2015, Liên Hợp Quốc đưa ra Mục tiêu số 4 cho Phát triển Bền Vững (SDG4), xoay quanh chủ đề hướng tới nền giáo dục chất lượng, với một số mục tiêu nhỏ hơn đặc biệt chú trọng các cấp tiền trung học phổ thông [2]. Là thành viên của Liên Hợp Quốc và đang trong đà tiến tới phát triển bền vững, Việt Nam đã đưa ra các chính sách để nâng cao chất lượng nền giáo dục. Cụ thể, năm 2018, Chương trình giáo dục phổ thông mới được thực hiện, trao cho cách trường học nhiều quyền tự chủ hơn trong việc lựa chọn sách giáo khoa và xây dựng hoạt động giảng dạy và học tập [1].

Theo nhóm tác giả, Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra nhu cầu phát triển công cụ đánh giá chất lượng chương trình học. Các học giả trên thế giới đã phát triển các chỉ tiêu đánh giá chất lượng chương trình học, ví dụ như đề xuất của Philip Stabback vào năm 2016 [3]. Tuy nhiên, nghiên cứu mới của nhóm tác giả Hoàng Đức Anh cho rằng cần điều chỉnh khung đánh giá phù hợp với bối cảnh khác nhau.

Từ tìm hiểu khái quát về Mục tiêu số 4 về Giáo dục Chất lượng, tham khảo các chỉ dẫn đánh giá chất lượng tại địa phương cùng với 48 cuộc phỏng vấn, bài viết đã đưa ra khung đánh giá dựa trên đề xuất của Stabback, nhưng được thay đổi cho phù hợp với Việt Nam và đưa vào thử nghiệm đánh giá 4 trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội.

Mô hình được đề xuất bao hàm 4 phạm trù. Thứ nhất, phát triển chương trình đào tạo cần có hệ thống, cần có tính bao hàm và tham khảo từ những người liên quan (ví dụ: phụ huynh, học sinh, nhân viên trường học), và được dẫn dắt bởi người cố chuyên môn, có kinh nghiệm phát triển chương trình học. Thứ hai, chính chương trình đào tạo nâng niu từng học sinh và đối xử với các em một cách công bằng. Ngoài ra, chương trình đào tạo cần có nội dung chất lượng, phù hợp và cấu trúc gọn gàng. Thứ ba là về việc thực hiện chương trình với những bên liên quan, bao gồm học sinh, giáo viên, trường học, … Cuối cùng là những đánh giá về chương trình học.

Khung đánh giá này được thử nghiệm ở 4 trường. Dữ liệu được thu thập từ thông tin trên website trường và phỏng vấn giáo viên (10-14 người) cùng hiệu trưởng. Kết quả cho mỗi phạm trù sẽ được thể hiện bằng biểu đồ mạng nhện. Ưu điểm của biểu đồ này là giúp chúng ta dễ dàng so sánh được kết quả của các trường với nhau. Dưới đây là ví dụ biểu đồ về kết quả đánh giá chất lượng chương trình học.

(Nguồn: [1])

Cuộc thử nghiệm cho thấy hai kết quả thú vị. Một, nếu trường học có quá trình phát triển khung chương trình tốt thì có thể dễ có chương trình học chất lượng cao hơn. Hai, cả 4 phạm trù đều có trường đạt 0 điểm trong chỉ tiêu nào đó. Các lý do đằng sau những điểm 0 này có thể là hướng nghiên cứu trong tương lai.

Khung đánh giá này mới được thử nghiệm tại 4 trường tiểu học tại Việt Nam. Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng có thể mở rộng mẫu trường học tham gia nghiên cứu trong tương lai, đặc biệt là các trường công khi họ có nhiều tự chủ hơn.

Tham khảo

[1] Hoang, A., Pham, H., Nguyen, Y. et al (2020). Introducing a tool to gauge curriculum quality under Sustainable Development Goal 4: The case of primary schools in Vietnam. International Review of Education, doi:10.1007/s11159-020-09850-1

[2] United Nations (2015). Sustainable Development Goal 4: Quality education. Retrieved 28/07/2020 from https://www.undp.org/content/undp/en/home/sustainable-development-goals/goal-4-quality-education.html

[3] Stabback, P. (2016). What makes a quality curriculum? In-Progress Reflection No. 2. Current and Critical Issues in Curriculum and Learning series. IBE/2016/WP/CD/02. Geneva: UNESCO International Bureau of Education (IBE).

Nguyễn T. Thanh Huyền (AI for Social Data Lab)


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):