CSDL NVSS: tác giả Việt nam có bài công bố khoa học Scopus, ISI, Nafosted

Đối mặt trước rủi ro, các nhà nghiên cứu trẻ có thể tìm tới các chương trình phát triển nghề nghiệp

SSHPA (07-10-2020) — Giữa cuộc khủng hoảng, các trường đại học báo cáo về làn sóng tìm kiếm các chương trình phát triển nghề nghiệp. Ví dụ, tại trường Cornell, trong sáu tháng đầu năm 2020 đã tăng 37% số cuộc hẹn tư vấn nghề nghiệp. Theo Susi Varvayanis, giám đốc trung tâm tư vấn nghề nghiệp sau đại học tại Cornell, đây là một bước nhảy so với con số không mấy thay đổi trong 5 năm trước. Cô chia sẻ: “Chúng tôi nhận thấy nhu cầu đang tăng vọt”.

Theo Suzanne Ortega, chủ tịch Hội đồng các trường cao học, Cornell không phải là trường hợp duy nhất. Hầu hết các cơ sở đều chưa từng thấy mức độ sử dụng các chương trình phát triển nghề nghiệp cao như vậy. Thế nên, cô cho rằng sẽ cần phát triển mạnh những chương trình phát triển nghề nghiệp. Cô chia sẻ: “Nếu chương trình này có thể đáp ứng đúng vào nhu cầu khám phá cơ hội nghề nghiệp, hãy nghĩ tới nhiều cách để họ tìm được công việc ưng ý. Điều đó sẽ rất quan trọng.”

(Nguồn: Image by Pavlofox from Pixabay)

Cơ hội để được trực tiếp khám phá nghề nghiệp theo chiều sâu sẽ cực kỳ hữu ích với học viên cao học và sau cao học hiện quan tâm tới công việc bên ngoài các học viện. Đây là ý kiến của Audra Van Wart, phó trưởng ban phát triển giáo dục đào tạo và chương trình tại Đại học Brown. Các tập sự có thể có ý định sẵn trong đầu về con đường nghề nghiệp dựa trên mối quan tâm và kĩ năng của bản thân nhưng họ cần phải trải nghiệm để biết họ có thích làm công việc đó hằng ngày hay không. Hoàn thành các nhiệm vụ lúc thực tập cũng là cách làm quen với công việc.

Van Mart là tác giả dẫn dắt của một bài báo được xuất bản online tháng vừa rồi, đưa ra những khuyến nghị cho các viện trong việc xây dựng các chương trình phát triền nghề nghiệp. Bài báo tập trung đến 4 loại cầm tay chỉ việc: thử việc (job stimulations), thăm trang tuyển dụng, dự khán công việc (job shadowing) và thực tạp. Các loại này đều được thực hiện bởi các cơ quan được hỗ trợ tài chính bởi quỹ chương trình Mở rộng Kinh nghiệm Đào tạo (BEST) của Viện Y tế Hoa Kỳ. Van Wart chia sẻ: “Chúng tôi đang cố gắng kết hợp những hoạt động đem lại kết quả tốt và cung cấp tài nguyên phù hợp cho mọi người.”

Tờ báo Nghề nghiệp của tạp chí Science đã trò chuyện Van Mart – một tiến sĩ sinh học thần kinh đã bị cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ảnh hưởng tới con đường nghề nghiệp – về cách khám phá nghề nghiệp sẽ giúp định hướng những nhà nghiên cứu trẻ đang bị ảnh hưởng. Cuộc phỏng vấn đã được biên tập lại cho ngắn gọn xúc tích.

Q: Trong bài báo của mình, chị và các đồng tác giả đã tập trung vào vấn đề tạo cơ hội tận tay hướng dẫn khám phá nghề nghiệp. Vì sao chị cho rằng đây là vấn dề quan trọng?

A: Vì điều này sẽ giúp các thực tập sinh quyết định nghề nghiệp phù hợp với kĩ năng, giá trị và mối quan tâm của họ. Rất nhiều học viên cao học và sau cao học quan tâm tới công việc ngoài học thuật nhưng họ không có bất kỳ kinh nghiệm gì trong những công việc đó. Vì thế tạo cơ hội cho thực tập sinh có một số trải nghiệp trước khi đưa ra quyết định là rất quan trọng – bất kể đó là thử việc, thăm các trang nghề nghiệp hay thực tập.

Khi tôi làm việc tại Virginia Tech, tôi đã nói chuyện về nghề nghiệp với các thực tập sinh. Sau đó chúng tôi sẽ có những phiên dài nửa ngày với những nhóm nhỏ hơn, những người thực sự quan tâm tới con đường công việc đó. Và chúng tôi sẽ cho các bạn ấy thử một chút bằng cách đưa các case để các bạn giải. Ví dụ, tôi đã mời những người làm việc trong ngành công nghệ sinh học tới và chúng tôi hỏi những thực tập sinh có nên mua lại công ty nhỏ hơn dựa trên thông tin sở hữu trí tuệ của họ. Chúng tôi đang cố gắng làm nổi bật những vai trò ngoài dẫn đầu đội nghiên cứu tại những doanh nghiệp đó. Ngoài ra, cũng tôi cũng nhấn mạnh rằng các quyết định ở đây cũng không nhất thiết lúc nào cũng liên quan đến khoa học mà cũng sẽ có những yếu tố kinh doanh.

Nền móng cho ý tưởng đó thực ra là từ cuộc phỏng vấn mà tôi có khi xét tuyển vào vị trí biên tập viên ở tập chí Neuron sau khi hoàn thành cao học. Trải nghiệm đó khá căng thẳng – tôi phải đọc những bài từ tập chí vào năm trước và viết nhận xét cho 6 bài tốt nhất và 6 bài tệ nhất được xuất bản năm đó. Tôi chỉ có cuối tuần và đó cũng trùng với Ngày Tạ ơn. Trong đầu tôi lúc đó nghĩ tại sao mình lại làm việc này, mình có thực sự muốn công việc này hay không. Ngày phỏng vấn còn căng thẳng hơn thế nữa. Tôi được yêu cầu đánh giá những bài báo, thảo luận về những chủ đề khoa học đang nổi nhất và thời gian đó và nghĩ về người tôi muốn mời viết bài nhận xét cho chủ đề đó. Và khi tất cả mọi thứ đã xong xuôi, tôi thực sự đã trải qua tất cả những nhiệm vụ của công việc đó. Đấy là những gì giúp tôi nhận ra rằng mình rất muốn công việc đó.

(Nguồn: Image by Gerd Altmann from Pixabay)

Sau này, khi tôi đã nhận công việc xây dựng chương trình đào tạo học viên cao học và sau cao học tại Virginia Tech. Tôi cảm thấy rằng nếu tôi có thể tạo ra những trải nghiệm như vậy trong một ngày hoặc ít hơn, thì đó có thể sẽ rất hữu ích cho những ai không thể làm thực tập toàn thời gian.

Q: Các thực tập sinh có thể làm gì nếu cơ quan của họ không có những chương trình khám phá nghề nghiệp?

A:  Bạn nên hỏi thăm vì điều đó đâu có ảnh hưởng gì. Nếu ở cơ quan của người quen họ có chương trình tương tự và nếu có thể, bạn có thể hỏi cơ quan xem họ có đồng ý cung cấp một số tài nguyên để giúp điều phối một phần nào đó cho bạn và các học viên khác. Có một số cách để làm việc này xảy ra nếu bạn nguyện ý làm bước đầu tiên.

Bạn cũng có thể tự tìm kiếm thông tin nghề nghiệp, ví dụ thông qua phỏng vấn thông tin hoặc quan hệ. Mọi người thường thích nói chuyện về những việc họ làm và rất mừng nếu ai đó muốn làm công việc của họ. Một trong những lời khuyên tốt nhất mà tôi nhận được là hãy hỏi những người có chuyên môn trong ngành mà tôi quan tâm.

Q: Nhiều trường đại học đang có ngân sách rất chặt. Vậy có cách nào giảm thiểu chi phí khi làm những chương trình này không?

A: Với phần lớn những hoạt động mà chúng tôi đã mô tả, hầu hết chi phí sẽ là nhân sự và thời gian để điều phối các hoạt động này. Bạn phải ưu tiên những gì hiệu quả nhất và những gì giúp được nhiều người nhất. Hợp tác với những khoa khác trong học viện cũng là một cách. Như vậy bạn có thể chia sẻ tài nguyên để cung cấp một số chương trình. Ở Brown, hiệp hội sau cao học đang làm rất tốt. Họ giúp tổ chức các chương trình mà chúng tôi đang làm và nó cũng là trải nghiệm tốt cho những người sau cao học đang làm việc.

Q: Chị cũng nghiên cứu sau tiến sĩ vào những năm khủng hoảng 2008. Nó đã ảnh hưởng đến kế hoạch công việc của chị như thế nào?

A: Khi tôi theo chương trình đào tạo sau đại học, tôi cảm thấy mình muốn đi theo con đường học thuật; thế nên tôi đã không xét đến những lựa chọn khác. Nhưng khi làm nghiên cứu sau tiến sĩ, tôi đã ở trong một phòng nghiên cứu liên ngành và có những người nghĩ họ sẽ bắt đầu một công ty sau khi hoàn thành công việc ở đó, hoặc là sẽ làm cho Google. Tôi nghĩ: “Tại sao mình không xem qua những thứ khác”. Vì vậy tôi đã tham gia các nhóm thảo luận về nghề nghiệp.

(Nguồn: Image by GraphicMama-team from Pixabay)

Tôi cũng nghĩ tới những khả năng khác khi thấy những người trong phòng nghiên cứu chật vật để trở thành nhân viên cơ hữu dù có những bài báo rất tốt. Thị trường này cạnh tranh lắm nên tôi cũng thấy mình cần được đào tạo để có thể cạnh tranh và có công việc độc lập.

Cuộc sống cá nhân của tôi là yếu tố ảnh hưởng. Tôi có con lúc làm nghiên cứu sau tiến sĩ và chồng tôi cũng đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ. Ý nghĩ muốn kiếm tiền và gia nhập vào doanh nghiệp lúc đó cũng rất hấp dẫn.

Khi tôi thấy tin tuyển dụng tại Neuron, tôi nghĩ nó sẽ là công việc tốt. Tôi thấy mình nên xét tuyển nhưng lại chần chừ và tin đó cũng biến mất. Tôi bắt đầu nghĩ sao mình thật ngu ngốc vì không xét tuyển và đã làm như vậy ngay khi tin tuyển dụng hiện lên.

Tôi phải nói là tôi yêu công việc này. Nó phù hợp với tính cách và kĩ năng của tôi. Tôi thích viết và truyền thông về khoa học. Khi làm nghiên cứu sau tiến sĩ, tôi cũng quan tâm đến những ngành khác dù không đến mức chuyển chủ đề nghiên cứu. Nhưng tôi muốn có thời gian học hỏi những ngành khác. Đấy là dấu hiệu cho thấy tôi sẽ thích công việc tại Neuron.

Q: Chị có lời khuyên gì cho các học viên cao học và sau cao học, người cũng đang có thời gian khó khăn?

A: Đầu tiên, bạn cần thấy bị áp lực cũng là điều bình thường. Nó có thể hiểu được và cũng là tình huống khó khăn. Nhưng tôi cũng muốn nói, hãy cố gắng bình tĩnh và tập trung vào những việc khiến bạn vui vẻ, thay vì những gì bạn tưởng tượng về công việc khi bạn bắt đầu học cao học. Cuộc sống là một chuỗi các lựa chọn chứ không phải điều có thể sắp đặt trước. Với vài người, có thể họ phải ở trong vị trí hiện tại lâu hơn so với dự kiến. Còn những người khác thì có thể sẽ tìm những con đường khác.

Việc hiểu rằng mọi công việc đều có khó khăn và thách thức là điều rất quan trọng. Sẽ có những điểm cộng điểm trừ cho mỗi công việc và mọi thứ nhìn sẽ rất tốt đẹp nếu ta chưa trải nghiệm nó. Tôi nghĩ không tồn tại công việc mà bạn làm 6 tiếng mỗi ngày, được trả 6 con số và không có một chút căng thẳng nào. Sẽ luôn có giây phút căng thẳng và không chắc chắn. Nhưng quan trọng nhất là bạn thích công việc bạn làm.

Nguồn:

Langin, K. (2020). Science trainees face uncertain career prospects. Professional development programs can help. Science. Retrieved from https://www.sciencemag.org/careers/2020/09/science-trainees-face-uncertain-career-prospects-professional-development-programs


Bài liên quan:


Ý kiến bạn đọc (0):